|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:77/2025/DS-PT Ngày 03-6-2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Các Thẩm phán tham gia: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Dương Hà Ngân.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ, là Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng– Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2025/TLPT ngày 23 tháng 01 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”,
Do Bản án số 48/2024/DS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông ông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXPT-DS ngày 28-02-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông, đối với các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Ngô Đình N, sinh năm 1968 và bà Hoàng Thị B, sinh năm 1970; cùng địa chỉ: Tổ dân phố I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1952; địa chỉ: Tổ dân phố I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1956; anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1988; anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 1996, chị Nguyễn Thị Trà M1, sinh năm 1999; chị Ngô Thị Mỹ D, sinh năm 1993; anh Ngô Mạnh Đ, sinh năm 1985. Cùng địa chỉ: Tổ dân phố I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- - Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm 1956; địa chỉ: Tổ dân phố I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
- - Ông Nguyễn Trọng N3, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
- - Ông Ngô Văn K, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Ông Ngô Văn H1, sinh năm 1972; địa chỉ: Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Ông Vũ Đình C; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
- - Ông Đào Đình H2; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường N, G, tỉnh Đắk Nông.
- - Bà Nguyễn Thị H3, ông Nguyễn Văn T1, địa chỉ: Tổ B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
- - Ông Lê Nam N4, địa chỉ: tổ H, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Những người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Tại đơn khởi kiện ngày 18/9/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Ngô Đình N, bà Hoàng Thị B trình bày:
Năm 1990, vợ chồng ông N, bà B khai hoang được 01 thửa đất rẫy tại thôn N, xã Q cũ (nay là tổ dân phố I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông), cũng trong năm 1990 ông bà trồng cà phê và nhiều cây lâu năm khác trên đất. Đến năm 1995, vợ chồng ông N, bà B được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSD đất) khoảng một nửa diện tích đất đã khai phá là 2.600m².
Phần đất còn lại chưa được cấp Giấy CNQSD đất, năm 2006, vợ chồng ông N, bà Bình bán đất cho ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị H3 diện tích đất khoảng 5000m² với giá 10.000.000đ. Đến khoảng năm 2010 – 2011 vợ chồng ông N, bà Bình bán diện tích đất khoảng hơn 500m² cho ông Đào Đình H2 với giá 20.000.000 đồng. Diện tích đất còn lại sau khi bán cho ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị H3, ông Đào Đình H2 khoảng hơn 1.500m², có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường P; phía Tây giáp đất của ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H; phía Nam giáp đất của ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H; phía Bắc giáp đất của ông N, bà B. Trên đất có trồng cây cà phê (trồng năm 1990) và 01 căn nhà cấp 04 diện tích khoảng 120m² được xây dựng vào năm 2013. Đến năm 2013 vợ chồng ông N, bà B tiến hành đo đạc và lập hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền đất. Tại Biên bản kiểm tra thực địa và sơ đồ mốc giới ngày 21/6/2017, thể hiện sơ đồ diện tích đất của ông N, bà B được bà Lê Thị H (vợ ông M) ký xác nhận ranh mốc.
Quá trình làm thủ tục đăng ký cấp Giấy CNQSD đất, qua đo đạc, kiểm tra xác định được diện tích đất còn lại nằm trên đất của ông N, bà B là thửa đất số 782, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.511m², tọa lạc tổ dân phố I, phường N, thị xã G (nay là thành phố G), tỉnh Đắk Nông. Tuy nhiên, khi đo đạc, giải thửa, ông Nguyễn Văn M là người sử dụng đất liền kề không ký giáp ranh cho ông N, bà B để hoàn tất thủ tục cấp Giấy CNQSD đất đối với diện tích đất trên. nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết xác định nguồn gốc thửa đất số 782, tờ bản đồ số 3 có diện tích 1.526m² (theo kết quả đo đạc 18/01/2024 do Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố G thực hiện, mảnh trích đo của Chi nhánh V, thửa đất tranh chấp có diện tích 1.526m²) toạ lạc tại tổ I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông là của vợ chồng ông N, bà B khai hoang và sử dụng ổn định đồng thời tuyên xử giao cho ông N, bà B được tiếp tục sử dụng diện tích đất nêu trên.
2. Bị đơn ông Nguyễn Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H trình bày: Diện tích đất vợ chồng ông N, bà B khởi kiện có nguồn gốc là của gia đình ông M xin Xí nghiệp giống cây con vào năm 1985 để ở và sản xuất.
Đến năm 1995, vợ chồng ông M được cấp Giấy CNQSD đất đối với thửa số 111, tờ bản đồ số 3, diện tích 3.760m², tọa lạc tại thôn N, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk cũ (nay là tổ dân phố I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông), theo Quyết định về việc cấp Giấy CNQSD đất số 02/QĐ-UB ngày 11/4/1995 của UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk cũ. Trong quá trình cấp Giấy CNQSD đất đối với diện tích đất còn lại ông M đã kê khai nhưng chưa được cấp Giấy CNQSD đất.
Đến năm 1997, vợ chồng ông M cho ông Ngô Đình H4 và ông Ngô Đình K1 (là anh, em ruột của ông N) mượn 01 phần diện tích đất của gia đình ông để trồng cây ngắn ngày, diện tích khoảng 910m² đến 920m². Nhưng sau đó, ông Ngô Đình H4 và ông Ngô Đình K1 về quê và không trả đất cho gia đình ông M. Sau đó, ông N, bà B trồng cây cà phê trên diện tích đất mà vợ chồng ông M cho ông H4, ông Kiều M2. Khi ông N sử dụng đất, ông M đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông N, bà B vẫn cố tình lấn chiếm. Hiện nay ông N đã làm nhà, xây dựng công trình phụ trên đất. Đến năm 2012, ông M làm đơn xin xác nhận lại và được Xí nghiệp L1 xác nhận đơn trình bày của ông M, bà H là đúng (có sơ đồ đất kèm theo).
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N, bà B thì ông M và bà H không đồng ý bởi vì nguồn gốc diện tích tranh chấp trên là của ông M và bà H.
3. Người làm chứng trình bày:
Ông Nguyễn Khắc T trình bày: Năm 1999, gia đình ông T đến sinh sống gần diện tích đất tranh chấp khoảng 100m. Khi đó đã có gia đình ông N, ông M sinh sống trước đó. Năm 1999, ông M và ông N đã trồng cà phê trên đất. Ông N có thuê ông T làm cỏ, cào bồn cà phê trên diện tích đất hiện nay ông N và ông M đang tranh chấp.
Ông Nguyễn Trọng N3 trình bày: Năm 1996, ông T đến sinh sống tại thôn N, xã Q (nay là tổ dân phố I, phường N). Từ ngày ông N3 đến ở thì ông thấy ông N canh tác cà phê trên mảnh đất sát nhà ông M và ông N3 đã từng đi cào bồn thuê cho ông N vào năm 1997. Về nguồn gốc đất trước đó thì ông N3 không rõ.
Ông Ngô Văn K trình bày: Năm 1997, ông K vào Đắk Nông làm phụ xe lấy gỗ, năm 1998 ông K có mua 01 lô rẫy có khoảng 700 cây cà phê của ông T2 là cậu của bà Hoàng Thị B, đến cuối năm 1998 ông K không có nhu cầu sử dụng nên bán lại cho ông Thảo T3, lô đất rẫy này ông Thảo T3 vẫn đang sử dụng. Đối với thửa đất đang tranh chấp giữa ông N, bà B với ông M thì ông K không biết, không có việc ông M cho ông K mượn đất, ông K không có sử dụng, canh tác gì trên thửa đất tranh chấp. Đến năm 1999, ông K về quê lấy vợ và sinh sống tại quê Hà Tĩnh. Về nguồn gốc đất tranh chấp như thế nào thì ông K không biết, khi vào Đắk Nông năm 1997 thì ông đã thấy đất hai bên đã có cà phê. Việc hai bên tranh chấp đất như thế nào thì ông không biết.
Ông Ngô Văn H1 trình bày: Đối với thửa đất đang tranh chấp giữa ông N, bà B với ông M thì ông H1 không biết, không có việc ông M cho ông H1 mượn đất, ông H1 không có sử dụng, canh tác gì trên thửa đất tranh chấp. Ông H1 có vào Đắk Nông chơi rồi về quê sinh sống tại Hà Tĩnh. Về nguồn gốc đất tranh chấp như thế nào thì ông H1 không biết. Việc hai bên tranh chấp đất như thế nào thì ông không biết.
Ông Vũ Đình C trình bày: Ông nguyên là giám đốc của Xí nghiệp vào thời điểm năm 2012, (ông C là người ký xác nhận cho ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị H ngày 10/12/2012), ông trình bày ngày 10/12/2012, ông C có xác nhận trong đơn của ông M, bà H. Ông xác định đất của ông M, bà H sử dụng có nguồn gốc là trước đây thuộc quản lý của Xí nghiệp. Năm 1985, Xí nghiệp tách các hộ dân có gia đình ra ở riêng, không ở tập thể của Xí nghiệp nữa mà làm nhà trên một phần đất của Xí nghiệp. Khoảng năm 1993-1994, Xí nghiệp trả một phần diện tích đất của Xí nghiệp về cho địa phương quản lý, trong đó có diện tích đất do ông N, ông M hiện nay đang sử dụng.
Năm 2012, Xí nghiệp có xác nhận phần đất đối với ông Nguyễn Văn M hiện đang sử dụng không thuộc đất của Xí nghiệp quản lý. Về sơ đồ thửa đất là do ông M vẽ vào đơn xin xác nhận, Xí nghiệp không xác nhận diện tích đất của ông M là bao nhiêu, không xác nhận sơ đồ thửa đất ông M vẽ.
Năm 2013, Xí nghiệp có xác nhận phần đất của ông Ngô Đình N hiện đang sử dụng không thuộc đất của Xí nghiệp quản lý. Năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ có quyết định thu hồi giải thể Xí nghiệp, các giấy tờ tài liệu liên quan đến thửa đất trên được lưu giữ tại Ủy ban nhân dân huyện Đ cũ (nay là thành phố G), tỉnh Đắk Nông.
Ông Đào Đình H2 trình bày: Ông H2 mua đất của ông N và bà B vào năm 2007, đến năm 2023 đất mới được cấp Giấy CNQSD đất. Vị trí đất mua ở phía mặt giáp ranh đất hộ nhà ông T1, phía đuôi giáp ranh đất nhà bà Nguyễn Thị B1, 01 mặt giáp ranh đất nhà ông N, bà B và 01 mặt còn lại giáp đường bê tông. Ông H2 có thấy ông N và bà B canh tác trên diện tích đất giáp với đất ông H2 từ khi ông H2 mua đất đến thời điểm xảy ra tranh chấp, không thấy ông M canh tác trên đất đang có tranh chấp. Ông H2 có ký giáp ranh đất với ông N và bà B vào thời điểm ông H2 mua đất. Ngoài ra, ông H2 không biết các thông tin khác.
Bà Nguyễn Thị H3 (Vợ ông Nguyễn Văn T1) trình bày: Cuối năm 2005, vợ chồng bà H3, ông T1 có mua 01 lô đất của ông N, bà B tại Tổ dân phố I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Giá trị đất là 20.000.000 đồng, có tứ cận cụ thể như sau: Phía Bắc giáp đất chuồng bò; (Xí nghiệp giống cây con); phía Nam giáp đất ông N, bà B, sau này giáp đất ông Đào Đình H2 do ông N, bà Bình bán đất cho ông H2 vào khoảng năm 2011-2012; phía Đông giáp đất ông N, bà B sau này vợ chồng ông N hiến đất để làm đường dân sinh; phía Tây giáp đất ông Lê Cao Q. Diện tích đất mua khoảng 05 sào. Diện tích đất này vợ chồng bà H3 đã bán lại cho các hộ gia đình sau: Hộ nhà P – T4, hộ nhà bà H5 (Làm cửa sắt), hộ nhà bà X (làm đá hoa cương). Về nguồn gốc đất, bà H3 khai rằng có nghe nói là do ông N, bà B khai hoang. Ông N và bà B là người sử dụng đất, bà (H3) không thấy ông M quản lý hay sử dụng đất tranh chấp, cũng không thấy có tranh chấp gì với gia đình ông N, bà B.
Ông Lê Nam N4 (Nguyên là công chức địa chính phường N về hưu) trình bày: Vào thời điểm 2017 ông Nghĩa là cán bộ địa chính của UBND phường N, ngày 21/6/2017 khi hộ ông N, bà B nộp đơn đăng ký cấp Giấy CNQSD đất đới với thửa đất 782, tờ bản đồ số 3, địa chỉ: Tổ I, phường N, thị xã G (N là thành phố G) thời điểm đó ông (N4) là người thụ lý hồ sơ, trực tiếp tham mưu cho UBND phường N giải quyết hồ sơ xin cấp Giấy CNQSD đất của ông N và bà B, do hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện (Đất có nguồn gốc khai hoang và không có tranh chấp, sau khi niêm yết danh sách công khai tại trụ sở UBND phường nên hồ sơ đã được chuyển đên VPĐKĐĐ để thực hiện thủ tục tiếp theo tại Chi cục thuế thị xã G (thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước). Ông N4 cũng xác định bà H (vợ của ông M) và ông H2 đã ký giáp ranh hộ liền kề. Ông N, bà B là người sử dụng, quản lý đất đất ổn định, lâu dài cho đến thời điểm xảy ra tranh chấp. Trên phương diện là Công chức địa chính của phường, ông cho rằng ông M, bà H6 tranh chấp và cho rằng đất do nguồn gốc ông M, bà H6 khai hoang là không có cơ sở.
Tại bản án số 48/2024/DS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 166, 170, 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Đình N và bà Hoàng Thị B.
Ông Ngô Đình N và bà Hoàng Thị B được tiếp tục sử dụng đối với diện tích 1.526m², tại thửa đất số 782, tờ bản đồ số 3, có tứ cận: Phía Đông giáp đường P có chiều dài là 40,57m; phía Tây giáp đất ông Nguyễn Văn M có chiều dài là 45,51m; phía Nam giáp đất ông Nguyễn Văn M và vườn T5 có chiều dài là 35,72m; phía Bắc giáp đất ông Đào Đình H2 có chiều dài là 37,13m.
(Có sơ đồ kèm theo - Mảnh trích đo của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố G, ngày 29/5/2024)
Ông Ngô Đình N, bà Hoàng Thị B được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục cấp Giấy CNQSD đất khi có đủ điều kiện quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 04-10-2024, ông Nguyễn Văn M kháng cáo yêu cầu hủy bản án số 48/2024/DS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, tuyên hộ ông N và bà B trả lại quyền sử dụng đất cho ông M và bà H.
Tại phiên phúc thẩm bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của thực hiện trong thời hạn luật định. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục theo Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Ông N trình bày diện tích đất này đã được đo đạc, lập hồ sơ để cấp giấy CNQSD đất, nguồn gốc đất là gia đình ông N khai hoang. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không thu thập được hồ sơ cấp đất này vì không có lưu trữ; có thông tin về nộp thuế trước bạ là 0 đồng (gia đình ông N không phải nộp phí trước bạ); Ông Lê Nam N4 (nguyên là cán bộ địa chính UBND Phường N) trình bày khẳng định ông ký xác nhận sơ đồ đất không có tranh chấp và bà Lê Thị H có ký xác nhận tại bản mô tả ranh giới theo hiện trạng; tại bản mô tả ranh giới mốc thửa ngày 12/4/2017 của đơn vị đo đạc do cán bộ Lý Đăng S lập có chữ ký của bà Lê Thị H ký giáp ranh nhưng bà H phủ nhận không ký, ông M cho rằng đó là giả chữ ký của bà H. ông M, bà H cũng không đề nghị giám định chữ ký, chữ viết vì cho rằng đó là nghĩa vụ của ông N phải đề nghị giám định. Tòa án cũng không trưng cầu giám định chữ ký chữ viết tên Lê Thị H trên bản mô tả để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 102 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án không lấy lời khai người làm chứng là ông S để làm rõ có hay không bà Lê Thị H đã ký vào bản mô tả nêu trên. Mặt khác, nội dung yêu cầu của nguyên đơn về diện tích 1.511 m², tại biên bản thẩm định tại chỗ ngày 18/01/2024 thể hiện nguyên đơn chỉ tứ cận khác với bị đơn chỉ tứ cận, kết quả đo đạc khác với tứ cận do nguyên đơn và bị đơn chỉ nhưng Tòa án đã tuyên: chấp nhận khởi kiện của ông Ngô Đình N và bà Hoàng Thị B được tiếp tục sử dụng diện tích đất 1.526m² tờ bản đồ số 3 là nhiều hơn 15m² vượt quá yêu cầu khởi kiện, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ bản mô tả ranh giới mốc thửa ngày 12/4/2017 có chữ ký và chữ viết Lê Thị H để xác định gia đình ông M bà H không phản đối việc cấp giấy CNQSD đất cho gia đình ông N khi chưa được giám định chữ ký, chữ viết có đúng là của bà Lê Thị H hay không là không đúng vì đơn kiến nghị của ông M đã gửi trước đó 3 năm. Từ các phân tích nêu trên, đề nghị HĐXX: áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Hủy bản toàn bộ bản án dân sự số 48/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân TP Gia Nghĩa để giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận, đối chiếu quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn M đảm bảo quyền kháng cáo, hình thức, nội dung và thời hạn theo đúng quy định tại các Điều 217, 272, khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó việc thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của Nguyễn Văn M về việc yêu cầu cầu hủy bản án số 48/2024/DS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, tuyên hộ ông N và bà B trả lại quyền sử dụng đất cho ông M và bà H Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về vị trí đất tranh chấp: Nguyên đơn và bị đơn đều cho rằng diện tích đất tranh chấp theo kết quả đo đạc 18/01/2024 do Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố V thực hiện có diện tích 1526m².
[2.2]. Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất: Các đương sự đều khai và xác định đất có nguồn gốc xin của xí nghiệp giống cây con. Nguyên đơn cho rằng xin và trồng cây trên đất từ năm 1990; Bị đơn khai có làm đơn xin đất của Xí nghiệp Giống cây con vào năm 1985 và chỉ trồng cây ngắn ngày. Năm 1997, bà H cho ông Ngô Đình H4 và Ngô Đình K1 mượn một phần đất diện tích khoảng 910m² để sử dụng trồng cây, đến năm 1998 đi về quê không trả lại, sau đó ông N đã lấn chiếm trồng cà phê trên toàn bộ diện tích đất hiện nay đang tranh chấp và đến năm 2013 làm nhà trên đất. Tuy nhiên, theo lời khai của ông Ngô Văn H1 và Ngô Văn K ngày ngày 05-10-2020 và ngày 18-01-2021 (bút lục 62, 65) thì ông H1, ông K phủ nhận sự việc ông M cho mượn đất và ông M không có tài liệu, chứng cứ chứng minh lời khai này là đúng sự thật.
Mặt khác, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện hồ sơ đăng ký kê khai cấp Giấy CNQSD đất đối với thửa đất số 782, tờ bản đồ số 3 của hộ ông Ngô Đình N thì tại bản mô tả ranh giới đất và biên bản xác minh thực địa (bút lục số 15, 16, 34, 36) đã được hai hộ giáp ranh liền kề là ông Đào Đình H2 và bà Lê Thị H (Vợ ông M) ký xác nhận ranh mốc và được UBND phường N biên bản về việc kết thúc công khai kết quả đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và UBND phường N đã xác định đất của hộ ông Ngô Đình N có nguồn gốc khai hoang và không có tranh chấp. Đồng thời, khi đối chiếu chiếu sổ mục kê, sổ địa chính lưu trữ, vị trí thửa đất không bị chồng lấn và chưa được cấp giấy chứng nhận, đã có chữ ký xác nhận giáp ranh của bà Lê Thị H. Mặc dù, hiện nay UBND phường N không còn lưu trữ Hồ sơ đối với Đơn đăng ký cấp Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở, và các tài sản gắn liền với đất đối với tích 1.391m²; thửa đất số 782; Tờ bản đồ số 3, địa chỉ: Tổ dân phố I, phường N nhưng tại bản lấy lời khai của ông Lê Nam N4 ngày 25/9/2024 (UBND phường N xác định ông Lê Nam Nghĩa L công chức địa chính của UBND phường N tại thời điểm 21/6/2017 đến ngày 19/10/2018), ông N4 xác nhận đất có nguồn gốc khai hoang và không có tranh chấp ông N4 đã chuyển hồ sơ đến VPĐKĐĐ thị xã G để thực hiện thủ tục tiếp theo tại Chi cục thuế thị xã G.
Thấy rằng: Trong quá trình ông N làm thủ tục xin cấp Giấy CNQSD đất hộ ông M không có ý kiến khiếu nại đến khi ông N, bà B đợi kết quả cấp Giấy CNQSD thì hộ ông M mới phát sinh tranh chấp nên xét thấy đất gia đình ông N sử dụng diện tích ổn định, không có tranh chấp, không chồng lên thửa đất khác.
Do đó, bị đơn cho rằng nguồn gốc diện tích 1.526m², tại thửa đất số 782, tờ bản đồ số 3, có tứ cận: Phía Đông giáp đường P có chiều dài là 40,57m; phía Tây giáp đất ông Nguyễn Văn M có chiều dài là 45,51m; phía Nam giáp đất ông Nguyễn Văn M và vườn T5 có chiều dài là 35,72m; phía Bắc giáp đất ông Đào Đình H2 có chiều dài là 37,13m là của gia đình ông M là không có căn cứ.
Hơn nữa, thực tế ông N bà B đã sử dụng lâu dài, trên đất đã trồng các cây cà phê và làm nhà ở từ thời điểm năm 1990 và có nhiều người chứng kiến trong đó có bị đơn biết việc sử dụng đất của nguyên đơn nhưng không có ý kiến cho đến năm 2014 khi nguyên đơn là thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị đơn mới phản đối. Căn cứ tại hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn năm 2017 thì được cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất của nguyên đơn là phù hợp với quy hoạch đường, đất công, dịch vụ đô thị theo công văn 157/CV-QLĐT ngày 06/7/2017; Căn cứ Điều 166, 170, 203 của Luật Đất đai năm 2013 Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn M.
[3]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đối với nội dung đề nghị giám định chữ ký của bà Lê Thị H trong bản mô tả thửa đất và việc vượt quá yêu cầu khởi kiện đối với 15m² đất. HĐXX xét thấy theo Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T6 Môi trường việc ký giáp ranh giữa các hộ liền kề khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải quy định bắt buộc nên việc giám định chữ ký, chữ viết tại bản mô tả giáp ranh là không cần thiết; về phần diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn so với yêu cầu khởi kiện là 15m² đây là sai số cho phép trong quá trình đo đạc. Xét thấy 15m² này nằm trong phạm vi ranh giới tứ cận đất tranh chấp nên không thuộc trường hợp vượt quá yêu cầu khởi kiện. Do đó, HĐXX xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát chưa phù hợp nên không chấp nhận hủy Bản án dân sự sơ thẩm.
[3]. Một số sai sót của cấp sơ thẩm: Xét thấy cách tuyên của cấp sơ thẩm chưa phù hợp nên HĐXX cần sửa lại.
[4].Về án phí: Ông Nguyễn Văn M là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
Tạm giao cho ông Ngô Đình N và bà Hoàng Thị B được quản lý, sử dụng đối với diện tích 1.526m², tại thửa đất số 782, tờ bản đồ số 3, có tứ cận: Phía Đông giáp đường P có chiều dài là 40,57m; phía Tây giáp đất ông Nguyễn Văn M có chiều dài là 45,51m; phía Nam giáp đất ông Nguyễn Văn M và vườn T5 có chiều dài là 35,72m; phía Bắc giáp đất ông Đào Đình H2 có chiều dài là 37,13m.
(Có sơ đồ kèm theo - Mảnh trích đo của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố G, ngày 29/5/2024)
Ông Ngô Đình N, bà Hoàng Thị B được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục cấp Giấy CNQSD đất khi có đủ điều kiện quy định của pháp luật.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn M không phải chịu án phí phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Hải Âu |
Bản án số 77/2025/DS-PT ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 77/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
