Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THÀNH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HSST

Ngày 29 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

        Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Nhung.

        Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hà - bà Đồng Thị Lý

        - Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Bá Kiên - Chức vụ: Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

        - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: ông Luyện Văn Thông - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS, ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:78/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Cao Đăng P (tên gọi khác: Không): Giới tính: Nam. Sinh ngày 26 tháng 8 năm 1982 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm E, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do: Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông Cao Đăng T và bà Thái Thị H. Vợ: Phan Thị T1 và 04 con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 11/5/2018, bị Toà án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 15/HSST: Ngày 10/6/2024 bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú đến ngày 13/6/2024. Hiện bị cáo bị tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An (có mặt).

2. Họ và tên: Cao Tiến T2 (tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam. Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1989 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm E, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Cao Đăng T và bà Thái Thị Hoa V: Võ Thị H1 và 3 con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/9/2017, bị Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An xử 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 38/HSST. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

3. Họ và tên: Trân Văn B (tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam. Sinh ngày 06 tháng 3 năm 1972 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm A, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Trần Văn P1 và bà Phạm Thị N (đều chết). Vợ: Nguyễn Thị O và 02 con. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 25/4/2023, bị Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An xử phạt 1.500.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Nhân thân: Ngày 25/5/2004 bị Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ an xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” tại bản án số 14/HSST: Ngày 10/5/2013 bị Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” tại bản án số: 22/HSST: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú: Bị cáo tại ngoại (có mặt).

4. Họ và tên: Phan Phúc T3 (tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam. Sinh ngày 02 tháng 01 năm 1993 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm C, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Phan Văn H2 và bà Lê Thị L. Vợ: Nguyễn Thị T4 và 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú: Bị cáo tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Cao Đăng P cùng đồng phạm bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 31/10/2023, Cao Tiến T2 điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại SH MODE, màu sơn xám đen, mang BKS 37D1 - 696.29 (trước đó Triển cất dấu 01 khẩu súng ngắn, màu đen (súng đã lắp hộp tiếp đạn, trong hộp đạn có 09 viên đạn, súng chưa lên đạn) để trong cốp xe. Chở Võ Thị H1 (vợ T2) cùng Cao Bảo A (con gái của T2) đi từ nhà đến quán M để hát Karaoke với nhóm của Cao Đăng P (anh trai của T2). Khi đến quán T2 thấy Phạm Xuân H3, sinh năm 1988, Phạm Xuân H4 sinh năm 1994, Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1995 cùng trú xã M, huyện Y đang đứng mép bên trái đường tỉnh lộ 538B (theo hướng từ xã M đi xã T) trước quán nên T2 đến nói chuyện cùng với nhóm của H3, lúc này Phan Phúc T3 đang đứng ở bãi đỗ xe của quán cách vị trí nhóm H3 khoảng 8m. Sau khi nói chuyện nhóm của H4, T2 đưa vợ con vào quán. Cao Tiến T2 đi ra vị trí của T3, H3 thấy T2 nên T3 đi từ bãi đỗ xe của quán Moon Q1 đến vị trí của T2 “anh lâu ngày hầy”, lúc này T2 nghĩ đến việc T3 vay của Cao Đăng P số tiền 5.000.000 đồng mà không trả (vì trước đó P đã nói cho T2 việc T3 vay tiền mà đòi nhiều lần chưa trả), nên T2 dùng tay vuốt mái tóc của T3 khoác vai T3 và nói “mi mượn tiền anh tau không chịu trả à”. Do bức xúc với T3 nên T2 chạy lại xe máy SH MODE lấy từ trong cốp ra 01 khẩu súng ngắn, màu đen chạy lại vị trí của T3 (khoảng 5 m), tay phải cầm súng chĩa hướng về T3, khi chạy đến T2 đã sử dụng báng súng đánh 01 phát trúng vào phần trán bên trái của T3 (theo chiều từ phải qua trái) không gây thương tích gì. Sau khi đánh T3, do lúc này súng của T2 đang cầm chưa lên đạn nên T3 đã xắc xê lên đạn nhưng vẫn không lên đạn được. Triển đi lại phía T3 đang đứng, cầm súng chĩa về phía T3 để đe doạ, sau đó T2 đi theo mép đường ra hướng phía trước bên phải (hướng từ ngoài đường nhìn vào trong quán) để sửa súng và xắc xê lên đạn (cách vị trí của T3 7m) quá trình xắc xê lên đạn thì súng cướp cò bắn 01 phát xuống đất, thấy vậy T3 sợ Triển sẽ bắn mình nên bỏ chạy theo đường tỉnh lộ 538B hướng về UBND xã M. Cùng lúc này Cao Đăng P từ trong quán nhìn thấy T2 đang đánh nhau với nhóm của T3 nên P chạy từ trong quán M đến vị trí xe ô tô của P đang để ở bãi xe lấy từ trong cốp ra 01 con dao (loại dao rạ) có cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 60cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 35cm, màu xám, đầu mũi dao cong. Khi T3 bỏ chạy, T2 cầm súng, P cầm con dao chạy lại vị trí của nhóm Phan Xuân H5 đang đứng (nhóm đứng bên trái trước quán). Cao Đăng P vừa chạy vừa chửi bới “mẹ mi, thằng mô đập em tau”. Khi đến vị trí của H5 và H4 thì T2 dùng báng súng đánh 01 phát trúng vào vùng đỉnh đầu phía sau bên trái của H5 gây ra vết thương rách da tại khu vực đỉnh đầu, cách vị trí chính giữa đỉnh đầu về phía sau bên trái 5cm, vết thương có kích thước (2x2)cm, không rõ hình dạng và chiều hướng, đánh một phát trúng vào khu vực thái dương bên trái của H4 gây ra vết thương rách da tại khu vực bên thái dương bên trái, điểm cuối vết thương cách thái dương bên trái 2cm, vết thương có kích thước (30x2)mm, không rõ hình dạng và chiều hướng và vết thương sưng bầm không chảy máu tại vị tríu vùng gò má trái. Sau khi bị đánh, H5 chạy ra giữa đường tỉnh lộ 538B hướng về UBND xã M, Cao Đăng P đuổi theo H5. Khi thấy P đuổi theo H5, T2 dùng súng cũng đuổi theo H5 (quá trình đuổi theo H5 thì T2 dùng súng bắn chỉ thiên 02 phát). T2 cùng P đuổi theo H5 khoảng 10m thì không đuổi theo nữa mà cùng quay lại vị trí của H4 và Nguyễn Trọng Q. Khi thấy T2 và P quay lại một số người đã can ngăn nên T2 tháo hộp tiếp đạn ra khỏi súng rồi lấy 06 viên đạn còn lại trong hộp vứt tại mép đường trước quán M và cất khẩu súng vào trong cốp xe máy và điều khiển xe chở vợ con về nhà; còn P cất dao trong cốp xe ô tô và cũng đi về.

Ngay sau khi sự việc xảy ra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, trích xuất camera, thu giữ vật chứng liên quan. Quá trình các đối tượng T2, P dùng súng, dao đánh nhau, gây thương tích cho nhóm của T3 kéo dài từ 25 phút đến 30 phút, xảy ra từ vị trí quán M ra đến đường tỉnh lộ 538B, trong thời điểm đó tại quán có khoảng 15 - 20 người khiến những người này và những người dân xung quanh hoang mang, lo sợ ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của quán và của người dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn.

Quá trình điều tra, Cao Tiến Triển khai về khẩu súng và 09 viên đạn bị thu giữ là do Triền mua của Nguyễn Vĩnh H6 sinh năm 1990 ở xóm P, xã M, huyện Y vào giữa năm 2021 với giá 20.000.000 đồng với mục đích để phòng vệ. Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT đã thu giữ tại nhà Nguyễn Vĩnh H6 01 khẩu súng màu đen có chiều dài 90cm, trên thân súng có ký hiệu “Cricket" "Listone industry co made in TaiWan" và 20 viên đạn bằng kim loại màu xám có kích thước dài 8mm, đường kính 5,5mm thu giữ.

Quá trình điều tra, Cao Đăng P còn khai nhận có hành vi đánh bạc cùng với Trần Văn B và Phan Phúc T3 trong ngày 21/9/2023, cụ thể như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21/9/2023, P sử dụng số thuê bao 0979716990 gọi đến số thuê bao 0976124879 của Trần Văn B và nói “anh mô đó, rành túi xuống nhà em ta uống rượu, trời mưa ni làm vài chén” thì B đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, B đến nhà P uống rượu thì P nói với B “tý ăn xong, anh em ta làm hồi bạc” B đồng ý. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc P uống rượu với B thì P nói “để em gọi thằng T3 lên nữa rồi tí ta ngồi đánh bạc hồi”, rồi P dùng số thuê bao 0979716990 gọi đến thuê bao 0345928001 của T3 và nói “lên nhà anh uống rượu, có anh B đến đây, uống xong ta làm ván bạc” thì Thông đồng ý. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi ăn uống xong P nói T3, B “anh em vô đánh bài ai hết tiền thì nghỉ” T3 và B đồng ý rồi P đi vào phòng ngủ lấy ra 02 bộ bài tú lơ khơ màu xanh, loại 52 quan đã chuẩn bị sẵn rồi cả 3 vào phòng ngủ ở chính giữa tầng một nhà P bắt đầu đánh bạc với nhau, thống nhất đánh bài Liêng, thẳng thua bằng tiền, tẩy mỗi ván là 50.000 đồng, phạt mỗi ván từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Cả 3 quy ước luật chơi với nhau. Sau khi đã lựa chọn quy ước luật chơi thì cả 3 đánh bạc đến 01 giờ 00 phút ngày 22/9/2023, T3 bị thua hết tiền nên T3 hỏi vay P 5.000.000 đồng thì P đồng ý. Sau đó cả 3 tiếp tục đánh bạc với nhau đến khoảng 02 giờ 30 phút 22/9/2023 thì T3 thua hết tiền. Phan Phúc T3 tiếp tục hỏi vay tiền Phương để đánh bạc tiếp nhưng P không đồng ý, do đó P, T3, B nghỉ và không đánh bạc nữa nên T3, B đi về nhà.

Quá trình điều tra đã chứng minh được các đối tượng sử dụng số tiền với mục đích đánh bạc như sau: Phan Phúc T3 sử dụng 7.500.000 đồng; Cao Đăng P sử dụng 2.000.000 đồng; Trần Văn B sử dụng 1.000.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng mục đích đánh bạc là 10.500.000 đồng.

Ngày 02/11/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành trưng cầu giám định đối với khẩu súng, các viên đạn thu giữ của Cao Tiến T2 và Nguyễn Vĩnh H6.

Tại bản kết luận giám định số: 21/KL - KTHS (Đ3 - SĐ) ngày 09/11/2023 của phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • +/ 01 khẩu súng ngắn, màu đen, trên thân súng có ký hiệu “ZORAKI MOD 914 - TD AUTO, A3iZR3DTSO1 - 2100455" thu giữ của Cao Tiến T2 gửi giám định là súng bắn đạn đầu cao su, đạn hơi cay cỡ 9x22mm thuộc công cụ hỗ trợ. Hiện súng còn sử dụng để bắn được”
  • +/ 01 khẩu súng màu đen có chiều dài 90cm, trên thân súng có ký hiệu “Cricket" “7075” và 01 khẩu súng màu đen có chiều dài 82,5cm trên thân súng có ký hiệu “Cricket" "Listone industry co made in TaiWan” thu giữ của Nguyễn Vĩnh H6 gửi giám định là súng hơi bắn đạn chì cỡ 5,5mm thuộc súng săn. Hiện súng còn sử dụng để bắn được”.
  • +/ 06 viên đạn dưới đáy có ký hiệu “9mm PAK GLD YAS" vỏ màu vàng, dài 22mm, đường kính 9mm, đầu đạn màu đen thu giữ tại hiện trường gửi giám định là đầu đạn cao su cỡ 9x22mm - thuộc công cụ hỗ trợ. Loại đạn này được sử dụng cho khẩu súng thu giữ của Cao Tiến T2.
  • +/ 03 vỏ đạn dưới đáy có ký hiệu “9mm PAK GLD YAS", vỏ màu vàng, dài 22mm, đường kính 9mm thu giữ tại hiện trường gửi đi giám định là vỏ đạn của loại đạn đầu cao su cỡ 9x22mm, loại đạn này thuộc công cụ hỗ trợ. 03 vỏ đạn này do khẩu súng thu giữ của Cao Tiến T2 gửi giám định bắn ra.
  • +/ 20 viên đạn bằng kim loại màu xám, có kích thước dài 8mm, đường kính 5,5mm thu giữ của Nguyễn Vĩnh H6 gửi giám định là đạn chì vỡ 5,5mm thuộc loại súng săn. Loại đạn này thường được sử dụng cho súng hơi cỡ nòng 5,5mm.
  • - Tại các bản kết luận giám định số 610/KLTTCT - TTPY và số 611/KLTTCT - TTPY cùng ngày 06/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận.
  • +/ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Xuân H3 tại thời điểm giám định là 01%.
  • +/ Tổng tỷ lệ tổn thương của Phạm Xuân H4 tại thời điểm giám định là 01%.

Ngày 11/12/2023 anh Phạm Xuân H4 và Phạm Xuân H3 có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với hành vi Cố ý gây thương tích của Cao Tiến T2.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số: 62/CT-VKS-YT ngày 12/6/2024 của VKSND huyện Yên Thành đã truy tố: Bị cáo Cao Đăng P về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và tội “Đánh bạc” và khoản 1 Điều 321 BLHS. Bị cáo Cao Tiến T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS. Bị cáo Trần Văn B, Phan Phúc T3 về tội “ Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • +/ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và khoản 1 Điều 321; Điều 55 BLHS: Xử phạt Cao Đăng P từ 24 đến 27 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và từ 6 đến 9 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp từ 30 đến 36 tháng tù.
  • +/ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS: Xử phạt Cao Tiến T2 từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 54 đến 60 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • +/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS: Xử phạt Trần Văn B từ 6 đến 9 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • +/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1,2,3 Điều 36 BLHS: Xử phạt Phan Phúc T3 từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ về tội “ Đánh bạc”. Khấu trừ thu nhập từ 500.000 đồng - 700.000 đồng.
  • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Cao Đăng P, Cao Tiến T2, Trần Văn B.
  • - Về dân sự: Anh Phạm Xuân H4, Phạm Xuân H3 không yêu cầu Cao Tiến T2 bồi thường đối với thương tích mà T2 gây ra cho anh H4, anh H3.
  • - Về vật chứng: Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
  • - Án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tính chất nhân đạo và khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên; của Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Căn cứ buộc tội: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 40 phút đến 22 giờ 15 phút ngày 31/10/2023 tại quán M thuộc xóm D, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An, bị cáo Cao Tiến T2 đã sử dụng hung khí là 01 khẩu súng (công cụ hỗ trợ) Cao Đăng P sử dụng hung khí là 01 con dao rượt đuổi đánh nhau với Phan Phúc T3, Phạm Xuân H4, Phạm Xuân H3 xảy ra nơi công cộng, tập trung đông người, cản trở kinh doanh và gây mất trật tự an ninh địa phương. Ngày 21/9/2023 tại nhà Cao Đăng P các bị cáo P, B, T3 đã có hành vi đánh bạc ăn tiền, hình thức đánh bài liêng, số tiền các bị cáo sử dụng là 10.500.000 đồng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo Cao Đăng P về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Bị cáo Cao Tiến T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS. Bị cáo Trần Văn B, Phan Phúc T3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng và ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương, xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội. Vì vậy, cần xử lý bằng biện pháp hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét tổng thể vụ án, vai trò, vị trí của các bị cáo thấy rằng cần phân hoá vai trò, mức độ về hành vi phạm tội của từng bị cáo để áp dụng hình phạt phù hợp, đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

- Đối với các bị cáo Cao Đăng P, Trần Văn B: Bị cáo P là đồng phạm với em trai của mình là bị cáo Cao Tiến T2 trong vụ án “Gây rối trật tự công cộng” và cũng là đồng phạm với bị cáo B và T3 trong vụ án “Đánh bạc” tại nhà của bị cáo nhằm thu lợi bất chính tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn nhưng vào thời điểm phạm tội bị cáo P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm năng lực hành vi dân sự nhận thức rõ nếu vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm nhưng bị cáo P vẫn cố tình phạm tội. Bị cáo B là đồng phạm với bị cáo P về hành vi “Đánh bạc” lẽ ra khi bị rủ rê bị cáo phải ngăn cản nhưng bị cáo lại đồng tình với bị cáo P cố tình tham giam “Đánh bạc” để thu lợi bất chính do đó cần phải xử lý nghiêm đối với cả 2 bị cáo này.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo P được chủ tịch UBND xã M tặng giấy khen vì có thành tích trong công tác từ thiện; gia đình bị cáo là gia đình có công với nước, ông bà nội của bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba: Bị cáo B sau khi phạm tội đã ra đầu thú, có ông nội được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS: Mặc dù các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên nhưng cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian vì bị cáo Phương phạm nhiều tội nên cần áp dụng Điều 55 BLHS để tổng hợp hình phạt; bị cáo B mặc dù tham gia đánh bạc số tiền tương đốt ít nhưng do có nhân thân xấu và có 1 tiền sự nên cần cách ly để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp.

- Đối với bị cáo Cao Đình T5: Đã có hành vi cầm súng (công cụ hỗ trợ) gây rối trật tự công cộng tại địa bàn xã M làm mất trật tự an ninh thôn, xóm nên cần phải xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo T5 được chủ tịch UBND xã M tặng giấy khen vì có thành tích trong công tác từ thiện; gia đình bị cáo là gia đình có công với nước, ông bà nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba: Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên, có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, cần xem xét đánh giá tính chất vụ án, đồng thời căn cứ vào nguyên tắc xử lý người phạm tội quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 BLHS và mục đích của hình phạt, không có tình tiết tăng nặng nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho gia đình và địa phương giám sát giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.

- Đối với các bị cáo Phan Phúc T3: Có hành vi đánh bạc và là đồng phạm với bị cáo P, bị cáo B để thu lợi bất chính và tham gia đánh bạc với số tiền nhiều nhất nên cần phải xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên, có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, cần xem xét đánh giá tính chất vụ án, đồng thời căn cứ vào nguyên tắc xử lý người phạm tội quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 BLHS và mục đích của hình phạt, xét bị cáo không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng nên không nhất thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo P, B, T5 nhưng xét các bị cáo không có nghề nghiệp hay thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.

- Đối với hành vi gây thương tích cho anh Phạm Xuân H4, Phạm Xuân H3 do các anh H4, H3 không có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can với Cao Tiến T2 nên Công an huyện Y xử phạt hành chính đối với T2 là đúng quy định pháp luật.

- Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ của Cao Tiến T2, Công an huyện Y đề nghị Chủ tịch UBND huyện Y xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

- Đối với hành vi chế tạo, trang bị, tàng trữ, vận chuyển và hành vi sửa chữa, sử dụng, chiếm đoạt súng săn hoặc chi tiết, cụm chi tiết súng săn và hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ của Nguyễn Vĩnh H6, Công an huyện Y đã đề nghị UBND huyện Y xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS.

  • +/ Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 10.500.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc “Đánh bạc”. (Biên lai giấy nộp tiền ngày 28 tháng 8 năm 2024 vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành số 39490104774600000)
  • +/ Tịch thu tiêu huỷ: - 01 túi niêm phong mã số NAS1A0033477 bên trong có 01 khẩu súng ngắn, màu đen, trên thân súng có ký hiệu “ZORAKI MOD 914 - TD AUTO, A3iZR3DTSO1 - 2100455" của Cao Tiến T2: 01 túi niêm phong mã số NS3A068659 bên trong có 02 viên đạn dưới đáy có ký hiệu “9mm PAK GLD YAS” và 03 vỏ đạn dưới đáy có ký hiệu “9mm PAK GLD YAS” ghi thu giữ tại hiện trường: 01 khẩu súng màu đen có chiều dài 90cm, trên thân súng có ký hiệu “Cricket” “7075” và 01 khẩu súng màu đen có chiều dài 82,5cm, trên thân súng có ký hiệu “Cricket" "LISTONE INDUSTRY CO MADE IN TAI WAN", 05 viên đạn bằng kim loại màu xám, có kích thước dài 8mm, đường kính 5,5mm; 01 hộp nhựa trong suốt bên trong có chứa nhiều viên đạn có đặc điểm giống nhau có tổng khối lượng 3,597kg, mỗi viên đạn có đặc điểm bằng kim loại màu xám, có kích thước dài 8mm, đường kính 5,5mm của Nguyễn Vĩnh H6: (Vật chứng đang lưu tại kho vật chứng Công an huyện Y theo phiếu nhập kho vật chứng số:89, ngày 10 tháng 11 năm 2023. Công an huyện Y có trách nhiệm chuyển giao phối hợp với ban chỉ huy Quân sự huyện Y, tỉnh Nghệ An tiêu hủy theo quy định của pháp luật).
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao (loại dao rựa), cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 60cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 35cm, màu xám, đầu mũi dao cong, dao đã qua sử dụng thu giữa của Cao Đăng P: 01 chiếc chiếu màu vàng xanh đã qua sử dụng thu giữ của Cao Đăng P.
  • +/ Tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30s màu xanh, bên trong có gắn số sim có số thuê bao: 0345928001, đã qua sử dụng của Phan Phúc T3: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng, bên trong có gắn số sim có số thuê bao: 0976124897, đã qua sử dụng của Trần Văn B: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, bên trong có gắn số sim có số thuê bao: 0979716990, đã qua sử dụng của Cao Đăng P. (Các vật chứng hiện đang quản lý tại kho vật chứng Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành phiếu nhập kho số: NK 0097 ngày 28 tháng 8 năm 2024).
  • - Đối với số tiền 10.500.000 đồng đang được gửi tại kho bạc nhà nước huyện Y, tỉnh Nghệ An: (Biên lai giấy nộp tiền ngày 28 tháng 8 năm 2024 vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành số 39490104774600000)
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại SH MODE màu sơn xám đen, mang BKS 37D1 - 696.29, xe đã qua sử dụng thu giữ của Cao Tiến T2, quá trình điều tra đã trả lại cho chị Võ Thị H1, sinh năm 1993, xóm E, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An là chủ sử dụng hợp pháp.
  • - Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại GRAND I10, màu sơn đỏ, mang BKS 37K - 140.14, xe đã qua sử dụng thu giữ của Cao Đăng P, quá trình điều tra đã trả lại cho chị Phan Thị T1, sinh năm 1992, trú tại xóm E, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An là chủ sử dụng hợp pháp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh, hình phạt:

  • +/ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và khoản 1 Điều 321, Điều 55 BLHS:
  • Xử phạt: Cao Đăng Phương 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 6 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội là 30 (ba mươi) tháng tù.
  • Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023)
  • +/ Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS:
  • Xử phạt: Trần Văn B 6 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023).
  • +/ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS,
  • Xử phạt: Cao Tiến Triển 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 5 (năm) năm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Giao bị cáo Cao Tiến T2 cho UBND xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
  • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật thi hành án hình sự.
  • +/ Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1,2,3 Điều 36 BLHS:
  • Xử phạt: Phan Phúc Thông 21 (hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ (Bị cáo được trừ 9 (chín) ngày tạm giữ bằng 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ).
  • Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo kể từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
  • */Căn cứ vào khoản 3 điều 36 BLHS khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo mỗi tháng cải tạo không giam giữ là: 700.000 đ (bảy trăm ngàn đồng) để sung quỹ nhà nước.
  • Giao bị cáo Phan Phúc T3 cho UBND xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

[2]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS

  • +/ Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 10.500.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc “Đánh bạc”. (Biên lai giấy nộp tiền ngày 28 tháng 8 năm 2024 vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành số 39490104774600000)
  • +/ Tịch thu tiêu huỷ: - 01 túi niêm phong mã số NAS1A0033477 bên trong có 01 khẩu súng ngắn, màu đen, trên thân súng có ký hiệu “ZORAKI MOD 914 - TD AUTO, A3iZR3DTSO1 - 2100455" của Cao Tiến T2: 01 túi niêm phong mã số NS3A068659 bên trong có 02 viên đạn dưới đáy có ký hiệu “9mm PAK GLD YAS” và 03 vỏ đạn dưới đáy có ký hiệu “9mm PAK GLD YAS” ghi thu giữ tại hiện trường: 01 khẩu súng màu đen có chiều dài 90cm, trên thân súng có ký hiệu “Cricket” “7075” và 01 khẩu súng màu đen có chiều dài 82,5cm, trên thân súng có ký hiệu “Cricket" "LISTONE INDUSTRY CO MADE IN TAI WAN", 05 viên đạn bằng kim loại màu xám, có kích thước dài 8mm, đường kính 5,5mm; 01 hộp nhựa trong suốt bên trong có chứa nhiều viên đạn có đặc điểm giống nhau có tổng khối lượng 3,597kg, mỗi viên đạn có đặc điểm bằng kim loại màu xám, có kích thước dài 8mm, đường kính 5,5mm của Nguyễn Vĩnh H6: (Vật chứng đang lưu tại kho vật chứng Công an huyện Y theo phiếu nhập kho vật chứng số:89, ngày 10 tháng 11 năm 2023. Công an huyện Y có trách nhiệm chuyển giao phối hợp với ban chỉ huy Quân sự huyện Y, tỉnh Nghệ An tiêu hủy theo quy định của pháp luật).
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao (loại dao rựa), cán bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 60cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 35cm, màu xám, đầu mũi dao cong, dao đã qua sử dụng thu giữa của Cao Đăng P: 01 chiếc chiếu màu vàng xanh đã qua sử dụng thu giữ của Cao Đăng P.
  • +/ Tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30s màu xanh, bên trong có gắn số sim có số thuê bao: 0345928001, đã qua sử dụng của Phan Phúc T3: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng, bên trong có gắn số sim có số thuê bao: 0976124897, đã qua sử dụng của Trần Văn B: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, bên trong có gắn số sim có số thuê bao: 0979716990, đã qua sử dụng của Cao Đăng P. (Các vật chứng hiện đang quản lý tại kho vật chứng Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành phiếu nhập kho số: NK 0097 ngày 28 tháng 8 năm 2024).

[3] Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Cao Đăng P, Trần Văn B, Cao Tiến T2, Phan Phúc T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Yên Thành
  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - THA DS H. Yên Thành
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án
  • - UBND xã
  • - Sở tư pháp tỉnh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng và đánh bạc)

  • Số bản án: 77/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Đăng Phương phạm tội gây rối trật tự công cộng và đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger