Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày 28 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với Bị cáo: Phạm Văn K, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1988 tại xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Phạm Ngọc C, sinh năm 1956; Mẹ đẻ: Phạm Thị N, sinh năm 1970; Vợ: Bùi Thị X, sinh năm 1986; Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2009; Gia đình có 03 anh em, Bị cáo là con thứ 2; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Lê Thị L, sinh năm 1983. Đã chết

Địa chỉ: Thôn H xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

- Người đại diện hợp pháp của Bị hại:

Anh Lê Ngọc T sinh năm 1969. Có mặt

Địa chỉ: Thôn H xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Quang C1, sinh năm 1978. Vắng mặt
    Địa chỉ: Thôn T xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Ông Lê Ngọc Đ, sinh năm 1958. Vắng mặt
    Địa chỉ: Thôn H xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
  3. Chị Bùi Thu H, sinh năm 2005. Vắng mặt
  4. Chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1965. Vắng mặt
  5. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1979. Vắng mặt
  6. Anh Bùi Văn K1, sinh năm 1979. Vắng mặt
    Cùng địa chỉ: Thôn A xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Phạm Văn K có giấy phép lái xe hạng C, là lái xe thuê cho Công ty TNHH C2, địa chỉ: Thôn C xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vào sáng ngày 09/6/2024, K một mình điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HOWO, màu xanh, biển kiểm soát 36C - 183.74 (Chủ xe là Công ty TNHH X1) di chuyển từ Công ty đến xã X, huyện T để lấy cát. Khoảng 09h 15 phút K điều khiển xe ô tô đi đến Quốc lộ D đoạn qua thôn A xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo hướng từ xã X đi thị trấn T. Thời điểm này chị Lê Thị L, sinh năm 1983, trú tại: Thôn H xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36D1- 201.81(xe của ông Lê Ngọc Đ, sinh năm 1958, trú tại thôn H xã T, huyện T, tỉnh thanh Hóa nhờ vợ chồng chị L trông coi quản lý) đang di chuyển trên phần đường bên phải, phía trước cùng chiều với xe của K. K điều khiển xe ô tô vượt xe mô tô do chị L điều khiển nhưng không chú ý quan sát và vượt xe khi chưa đảm bảo an toàn nên đã va chạm với xe mô tô do chị L điều khiển. Đầu xe ô tô bên phải do K điều khiển va chạm vào đầu mút ngoài tay nắm bên trái xe mô tô chị L điều khiển ở vị trí thuộc phần đường bên phải theo hướng chị L và K đang di chuyển. Sau va chạm chị L và xe mô tô ngã xuống mặt đường, bánh xe ô tô phía sau bên phải của K đè vào người chị L dẫn đến xe ô tô của K bị kênh lên thì K mới phát hiện đã sảy ra tai nạn. K dừng xe ở lề đường bên phải, xuống xe kiểm tra thì thấy chị L bị thương tích nặng nên K cùng người dân đưa chị L đi cấp cứu. Chị L được chuyển đến bệnh viện đa khoa tỉnh T và chuyển tuyến đến Bệnh viện H1 điều trị. Do vết thương nặng, đến ngày 21/6/2024 thì chị L tử vong.

Sau khi gây tai nạn đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, tạm giữ phương tiện theo quy định. Ngày 21/6/2024 Đ2 đã bàn giao hồ sơ, phương tiện cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở của Phạm Văn K, kết quả là 0,000mg/l khí thở; Xét nghiệm nước tiểu của K, kết quả âm tính với các chất gây nghiện(ma túy).

Kết quả khám nghiệm hiện trường

Hiện trường nơi sảy ra tai nạn là Km 36+850 đường Quốc lộ 47C đoạn thuộc thôn A xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Đường được rải nhựa bằng phẳng, độ rộng là 6m, ở giữa có vạch kẻ đường nét đứt; T2 nhìn không bị che khuất, hai bên không có lề đường. Đoạn đường nơi sảy ra tai nạn tương đối thẳng; H đường Đ - T. Trong đó hướng Đ1 là hướng đi thị trấn T. Hướng T3 là hướng đi thị trấn L; Hướng B tiếp giáp với đê sông C; Phía Nam tiếp giáp với vệ cỏ rộng 1,5m và khu dân cư T xã X phía dưới chân đê.

* Chọn mốc vạch chuẩn:

  • Lấy mép lòng đường phía Nam đường Quốc lộ 47C đoạn thuộc thôn A xã X, huyện T làm mép đường chuẩn. Ký hiệu là B.
  • Lấy cột mốc ký hiệu H9/36 ở mép đường phía Bắc đường Quốc lộ 47C đoạn thuộc thôn A xã X, huyện T làm điểm mốc cố định. Kẻ đường thẳng qua điểm mốc cố định vuông góc với đường Q làm đường thẳng cố định, ký hiệu A.

* Quá trình xác định hiện trường xác định:

  • Dấu vết 1: Vị trí xe mô tô biển kiểm soát 36D1- 201.81 ngã nghiêng trái xuống đường, đầu xe quay hướng N1, đuôi xe quay hướng Bắc, vị trí xe nằm ngoài bờ cỏ phía Nam so với lòng đường. Vị trí trục trước xe mô tô từ tâm đến B là 1,8m. Vị trí tâm trục sau xe mô tô đến B là 0,4m; Đến A về phía Đông là 46m.
  • Dấu vết 2: Vị trí xác định đầu nạn nhân Lê Thị L ở vệ cỏ lề ngoài đường phía Nam của đường Q: Hai chân được xác định nằm sát mép lòng đường phía Nam của đường Quốc lộ 47C; Vị trí đầu quay hướng Đ, hai chân quay hướng T. Vị trí đầu nạn nhân được xác định cách trục sau xe 2,1m, cách B 0,5m về phía ngoài lòng đường
  • Dấu vết 3: Vị trí xác định xe ô tô biển kiểm soát 36C - 183.74 sau khi tai nạn sảy ra nằm đậu đỗ sát lề đường hướng Nam của đường Q. Đầu xe quay hướng Đông, đuôi xe quay hướng Tây; Mép ngoài bánh xe trước bên trái cách B là 1,05m; Mép ngoài bánh xe sau cùng bên trái cách B là 1,2m; Cách trục sau xe mô tô 77,5m.
  • Dấu vết 4: Vị trí lái xe Phạm Văn K xác định bánh xe sau bên phải kênh bánh xe, chèn qua người nạn nhân ngay gần vị trí xe mô tô. Tiến hành đo đạc xác định vị trí bánh xe sau cùng xe ô tô biển kiểm soát 36C - 183.74 cách trục sau xe mô tô về phía Đông 2,1m; M ngoài bánh xe sau cùng bên phải cách B là 0,3m; Mép ngoài bánh xe trước bên phải cách B 0,45m.
  • Dấu vết 5: Vị trí lái xe Phạm Văn K xác định phát hiện quan sát thấy nạn nhân trước khi tai nạn sảy ra được xác định cách vị trí xe mô tô về phía Tây 56,5m. Tiến hành đo đạc xác định vị trí bánh xe trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 36C - 183.74 cách trục sau xe mô tô về phía Tây 56,5m; Cách B 0,2m; Bánh xe sau cùng bên phải xe ô tô cách B 0,3m.

Rà soát xung quanh khu vực hiện trường phát hiện thấy biển báo hiệu, đèn tín hiệu giao thông đường bộ cách vị trí xe mô tô về phía Tây 15,9m tại vệ cỏ ngoài phía Nam đường Q có một biển báo khu dân cư (Hình D19 - Biển số R.420).

Ngày 21/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định số 797A/QĐ-ĐTTH trưng cầu phòng K2 Công an tỉnh T giám định pháp y tử thi đối với Lê Thị L, sinh năm 1983, trú tại: Thôn H xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại Kết luận giám định từ thi số 3234/KLGĐTT-PC09 ngày 05/9/2024 kết luận:

* Các kết quả chính:

- Kết quả khám nghiệm:

  • Các vết xây xước da, bầm tụ máu tổn thương tổ chức da tại vùng: Mặt, lưng, hông, hai tay, chân phải;
  • Vết mổ đã khâu kín chỉ tại vùng bụng. Các vết đặt dẫn lưu tại vùng ngực, bụng.
  • Chân trái đã được cắt bỏ tại vị trí khớp háng. Quanh vị trí cắt bỏ tổ chức da, cơ bầm tụ máu, hoại tử.
  • Tụ máu tổ chức da, cơ vùng ngực, bụng. Tổ chức da, cơ quanh vết mổ đường trắng giữa hoại tử, mủn nát.
  • Nhiều dịch tại khoang ngực hai bên và ổ bụng.
  • Dập, rách, tụ máu thuỳ dưới phổi trái; Bề mặt tổ chức phổi phải có các đám màu vàng trắng ngà dạng viêm. Cắt qua tổ chức phổi hai bên có nhiều dịch bọt lẫn dịch viêm màu trắng đục.
  • Mạc nối lớn và các ruột bám dính nhiều giả mạc màu trắng.
  • Đại tràng ngang và quai tiểu tràng được khâu các mũi chỉ. Tại vị trí đại tràng xuống được phẫu thuật đặt hậu môn nhân tạo.
  • Trong buồng tử cung không có dụng cụ tránh thai, không có thai.

- Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không.

- Kết quả khác:

Bản sao Bệnh án ngoại khoa của bệnh viện đa khoa tỉnh T đối với Lê Thị L:

  • Vào viện lúc 11h 19' ngày 09/6/2024.
  • Chẩn đoán: Sốc đa chấn thương: Theo dõi đụng dập động mạch đùi-chậu bên trái. Chấn thương bụng. Vết thương lóc da phúc tạp đùi trái.
  • Hướng điều trị: Mổ cấp cứu khâu vỡ ruột non, cắt đại tràng sigma, làm hậu môn nhân tạo, khâu cầm máu tĩnh mạch đùi trái, thắt động mạch chậu phải, truyền máu, bù dịch, kháng sinh.

Bản sao Bệnh án ngoại khoa của bệnh viện H1 đối với Lê Thị L:

  • Vào viện lúc 19h ngày 12/6/2024.
  • Cấy dịch ổ bụng: Nấm Candicas. Cấy đầu catheter ven chạy thận: Kleb đa kháng. Cấy dịch phế quản: Acinobacter Baumannii đa kháng nhạy Colistin.
  • Chẩn đoán: Chấn thương ngực kín, tràn máu, tràn khí màng phổi trái, vỡ ruột non, vỡ bàng quang, vỡ đại tràng, dập nát hoại tử cơ đùi trái.
  • Hướng điều trị: Phẫu thuật cắt cụt chi. Mở bụng thăm dò, khâu lỗ thủng bàng quang, dẫn lưu bàng quang.
  • Diễn biến: Bệnh diễn biến nặng. Bệnh nhân thở máy qua NKQ; Mạch 110 lần/phút, huyết áp: 110/60mmHg( duy trì noradrenalin 0,35); Vô niệu, lọc máu liên tục. Ngày 21/6/2024 gia đình xin cho nạn nhân ra viện

- Kết luận nguyên nhân chết: Suy đa tạng, sốc nhiễm khuẩn do hậu quả của đa chấn thương.

Ngày 12/9/2024, Cơ quan CSĐT ban hành Công văn số 1009/ĐTTH đề nghị Phòng K2 Công an tỉnh T giải thích Kết luận giám định. Tại Công văn số 569/CV-PC09 ngày 18/10/2024 Phòng K2 Công an tỉnh T trả lời:

  • Suy đa tạng, sốc nhiễm khuẩn do hậu quả của đa chấn thương sau tai nạn giao thông gây nên.
  • Các tổn thương do tai nạn giao thông của bà Lê Thị L là các tổn thương nặng, trong đó có các tổn thương gây nhiễm trùng như: Tràn máu, tràn khí màng phổi, vỡ ruột non, vỡ bàng quang, vỡ đại tràng, dập nát cơ đùi, vỡ xương chậu... các tổn thương này gây tình trạng sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng dẫn đến tử vong.

Ngày 14/7/2024, Cơ quan CSĐT ra Quyết định trưng cầu số 862/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh T giám định dấu vết va chạm cơ học. Tại Bản kết luận giám định số 2865/KL-KTHS ngày 02/8/2024 kết luận:

  • Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước dưới bên phải khung đèn Led bên phải đầu xe ô tô BKS 36C-183.74 với mặt sau trên đầu mút ngoài tay nắm bên trái xe mô tô BKS 36D1-201.81.
  • Tại thời điểm va chạm xe ô tô BKS 36C-183.74 ở phía bên trái, chuyển động cùng chiều và có vận tốc lớn hơn so với xe mô tô BKS 36D1-201.81.
  • Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm tương ứng vị trí xe mô tô BKS 36D1-201.81, được thể hiện trong Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trên chiều đường theo hướng từ thị trấn L đi thị trấn T.
  • Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm sảy ra tai nạn giao thông;

Ngày 17/7/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 879/QĐ-ĐTTH, trưng cầu giám định Phòng K2 Công an tỉnh T giám định hoá học(dấu vết sơn) để lại trên hai phương tiện. Tại Bản kết luận giám định số 2745/KL-KTHS ngày 24/7/2024 kết luận: Trên đầu mút ngoài tay nắm ghi thu của xe mô tô BKS 36D1-201.81 có bám dính dấu vết sơn màu xanh. Dấu vết sơn màu xanh này cùng loại với mẫu sơn ghi thu tại vị trí đèn Led bên phải xe ô tô BKS 36C-183.74.

Về phương tiện, giấy tờ bị tạm giữ: Xe mô tô biển kiểm soát 36D1-201.81; Xe ô tô biển kiểm soát 36C - 183.74 kèm theo giấy tờ xe liên quan và 01 Giấy phép lái xe hạng C. Tất cả phương tiện và giấy tờ trên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình Bị hại tổng số tiền 380.000.000đ. Đại diện hợp pháp của Bị hại không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo. Về hư hỏng, thiệt hại của xe không đáng kể nên chủ sở hữu hợp pháp không có yêu cầu đề nghị gì.

Cáo trạng số 80/CT-VKSTX ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Bị cáo Phạm Văn K về tội : "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Bị cáo Phạm Văn K phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; Điểm s, b khoản 1 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Bị cáo Phạm Văn K từ 12(mười hai) tháng tù đến 15(mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24(hai mươi tư) tháng đến 30(ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Không phạt bổ sung đối với Bị cáo; Buộc Bị cáo phải chịu án phí HSST là 200.000đ.

Bị cáo; Đại diện hợp pháp của Bị hại không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Đại diện hợp pháp của Bị hại đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của Bị cáo tại cơ quan điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào khoảng 09h 15 phút ngày 09/6/2024 tại Km 36+850 đường Q đoạn qua thôn A xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Bị cáo Phạm Văn K có bằng lái xe ô tô hạng C có hành vi điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C- 183.74 đi theo hướng xã X đi thị trấn T vượt xe mô tô biển kiểm soát 36D1- 201.81 do chị Lê Thị L điều khiển đang đi trên phần đường bên phải, phía trước cùng chiều với K, do không chú ý quan sát và vượt xe khi chưa đảm bảo an toàn nên đầu xe bên phải xe ô tô đã đâm va vào đầu mút ngoài tay nắm bên trái xe mô tô do chị Lê Thị L điều khiển. Hậu quả: Chị Lê Thị L ngã xuống mặt đường và bị bánh xe sau bên phải của xe ô tô do K điều khiển đè lên người dẫn đến bị thương tích nặng và tử vong. Hành vi của Bị cáo K đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Bị cáo K tham gia giao thông đường bộ đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 2 điều 14 Luật giao thông đường bộ; Điểm a khoản 7 điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính Phủ gây thiệt hại về tính mạng. Do đó Bị cáo K phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.

Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận Bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.

Cáo trạng số 80/CT-VKSTX ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Bị cáo Phạm Văn K là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất của vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng.

[4]. Về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại về tính mạng của người khác. Trong tình hình hiện nay tình trạng vi phạm luật giao thông đường bộ đang là mối quan tâm của toàn xã hội, hậu quả của những vi phạm này là nghiêm trọng, ảnh hưởng tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy hành vi phạm tội của Bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh .

[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của Bị cáo thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có có Tiền án, Tiền sự; Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa Bị cáo đều thành khẩn khai báo; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại khắc phục hậu quả cho Bị hại nên Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt: HĐXX xét thấy: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý; Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có có Tiền án, Tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly xã hội đối với Bị cáo. HĐXX áp dụng điều 65 BLHS cho Bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và cũng đủ điều kiện giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

[7]. Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình Bị hại số tiền 380.000.000đ. Đại diện hợp pháp của Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của Bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 điều 260; Điểm s, b khoản 1 điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn K 12(mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Không phạt bổ sung đối với Bị cáo;

Giao Bị cáo Phạm Văn K cho UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;

Buộc Bị cáo Phạm Văn K phải chịu 200.000đ án phí HSST nộp ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo và Đại diện hợp pháp của Bị hại có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND;

- THA dân sự;

- THA hình sự Công an

huyện Thọ Xuân;

- Bị cáo;

- Bị hại

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Khởi gây tai nạn giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger