Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HSST

Ngày: 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Đoàn.
Ông Nguyễn Thanh An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Thị Thu Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Băng T, sinh ngày: 01/01/1994.

Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh V (chết) và bà Nguyễn Thị Kim L; Bản thân có vợ tên Trang Thị Diễm C, có 01 con sinh năm 2021; Tiền án - tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số: 54/QĐ-XPHC, ngày 08/4/2016 của công an xã T, huyện C xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Quốc H, sinh năm: 1995 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
  2. Bùi Tấn L1, sinh năm: 1995 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
  3. Nguyễn Văn P, sinh năm: 1997 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Người chứng kiến: Trần Thanh Đ, sinh năm: 2005 (vắng mặt).

Cư trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, Công an xã P tiến hành tuần tra trên tuyến đường P, khi đến cầu T thuộc ấp T, xã P, huyện C phát hiện Trần Băng T đậu xe mô tô dưới chân cầu T để chuẩn bị bán ma túy cho Nguyễn Quốc H, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 (một) gói nylon có rãnh khép viền đỏ bên trong chứa tính thể rắn màu trắng, nghi là ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 298/KL-KTHS ngày 30/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon có rãnh khép viền màu đỏ, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1347 gam, loại Methamphetamine.

H1 lại đối tượng giám định: Mẫu vật phục vụ hết cho công tác giám định, hoàn lại vỏ bao đựng mẫu được niêm phong.

Quá trình điều tra Trần Băng T khai nhận: do muốn có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng nên T đã mua ma túy về để sử dụng và bán lại cho Nguyễn Quốc H tổng cộng 02 (hai) nhằm hưởng lợi, cụ thể như sau:

Lần 1: Vào ngày 24/4/2024 Triều mua 01 (một) gói ma túy đá của Nguyễn Văn P (B) tại nhà của P, thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An với số tiền 400.000₫ (bốn trăm ngàn đồng). Khoảng 08 giờ cùng ngày H điện thoại hỏi mua của T 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) ma túy đá, T đồng ý và bán gói ma túy vừa mua từ P cho H tại nhà của T thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An, T thu lợi được số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

Lần 2: Vào ngày 26/4/2024, T mua 01 (một) gói ma túy đá của Nguyễn Văn P (B) tại nhà của P với số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng), sau đó T sử dụng một ít, phần còn lại cất giấu trong người. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày H sử dụng điện thoại di động hiệu V.S.mart lắp sim số 0933.214.330 gọi vào số điện thoại di động hiệu Oppo lắp sim số 0902.262.521 của T đặt mua 01 (một) gói ma túy đá với số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng), T đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận tại cầu T. Khoảng 23 giờ 00 cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 51F9-9340 đi từ nhà đến cầu T thuộc ấp T, xã P, huyện C để giao 01 (một) gói ma túy đá cho H, nhưng chưa kịp giao thì bị Công an xã P phát hiện bắt quả tang.

Tại Bản cáo trạng số 77/CT-VKSCG ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố Trần Băng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Băng T từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: thẻ sim điện thoại di động số 0902.262.xxxcủa bị cáo T và thẻ sim điện thoại di động số 0933.214.xxx của Nguyễn Quốc H do sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong.

Đề nghị tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo của bị cáo T, 01 (một) điện thoại di động hiệu V.S.mart của Nguyễn Quốc H, do sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội và số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) của Nguyễn Quốc H, do sử dụng để mua ma túy.

Đề nghị, buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) là tiền mua ma túy và thu lợi bất chính, tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) xe môtô, biển số 51F9-9340. Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho anh Bùi Tấn L1 do anh L1 cho bị cáo T mượn, không biết bị cáo T sử dụng để làm phương tiện phạm tội, là phù hợp.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Do muốn có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng nên vào khoảng 08 giờ, ngày 24/4/2024 tại nhà mình, bị cáo T đã bán lần một cho Nguyễn Quốc H một gói ma túy đá với giá 500.000 đồng, thu lợi 100.000 đồng và khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 26/4/2024 tại chân cầu T thuộc ấp T, xã P, huyện C, bị cáo T bán lần hai cho Nguyễn Quốc H một gói ma túy đá với giá 500.000 đồng thì bị công an tuần tra phát hiện bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số: 298/KL-KTHS ngày 30/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: gói ma túy mà bị cáo T bán cho H là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1347 gam. Do đó hành vi trên của bị cáo T đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là “Phạm tội hai lần trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[3] Đối với đối tượng Nguyễn Văn P (B), sinh năm 1997, nơi thường trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An theo bị cáo T khai nhận đã bán ma túy cho bị cáo, sau đó bị cáo T mới bán lại cho Nguyễn Quốc H, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C đã tiến hành làm việc và đối chất giữa bị cáo T với đối tượng P. Tuy nhiên P không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho T và ngoài lời khai của bị cáo T thì không có chứng cứ nào khác để chứng minh, do đó không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với P. Đối với Nguyễn Quốc H có hành vi mua ma túy vào 23 giờ 30 phút, ngày 26/4/2024 với ma túy đã giám định là loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1347 gam, nhưng bị cáo T chưa giao và H cũng chưa nhận ma túy, nên không có căn cứ để xử lý Nguyễn Quốc H về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

[4] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như: mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép... chất ma tuý, nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thoả đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo Điều 52 Bộ luật hình sự: không.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có ông cố tên Nguyễn Văn T1 là liệt sĩ, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Xét về nhân thân của bị cáo: theo Quyết định số: 54/QĐ-XPHC, ngày 08/4/2016 của công an xã T, huyện C xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[8] Đối với Nguyễn Quốc H có hành vi mua ma túy về để sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C có Công văn số 325/CV-CSĐT, ngày 14/8/2024 chuyển Công an xã T, huyện C, xử phạt hành chính theo quy định, là phù hợp.

[9] Về tang vật thu giữ: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, để xử lý tang vật thu giữ như sau:

[9.1] Đối với: Thẻ sim điện thoại di động số 0902.262.xxxcủa bị cáo T và thẻ sim điện thoại di động số 0933.214.xxx của Nguyễn Quốc H do sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với vỏ bao đựng mẫu được niêm phong không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

[9.2] Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Oppo của bị cáo T, 01 điện thoại di động hiệu V.S.mart của Nguyễn Quốc H, do sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) thu giữ của Nguyễn Quốc H, do sử dụng để mua ma túy, nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị buộc bị cáo T phải nộp số tiền 500.000 đồng, là tiền sử dụng mua ma túy 400.000 đồng và thu lợi bất chính 100.000 đồng từ việc bán ma túy để tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, xét thấy số tiền 400.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo, không phải do việc phạm tội mà có, nên không tịch thu mà chỉ tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền số tiền 100.000 đồng bị cáo T thu lợi bất chính.

[9.3] Đối với 01 (một) xe môtô loại 100LF, hiệu FULJIR, biển số 51F9-9340. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ và hoàn trả cho anh Bùi Tấn L1 do anh L1 là chủ sở hữu cho bị cáo T mượn, không biết bị cáo T sử dụng để làm phương tiện phạm tội, là phù hợp.

[10] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Băng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Băng T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 27/4/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: thẻ sim điện thoại di động số 0902.262.xxx và thẻ sim điện thoại di động số 0933.214.xxx và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong.

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, 01 (một) điện thoại di động hiệu V.S.mart và số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng).

Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 52/QĐ-VKSCG, ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Buộc bị cáo Trần Băng T phải nộp lại số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) thu lợi bất chính, tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THADS huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo; đương sự;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 77/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Băng T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger