|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HSST
Ngày: 14/5/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Xuân Hà.
Các Hội thẩm dân nhân:
- Ông Nguyễn Thế Long.
- Bà Lê Thị Thơm.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Việt Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên toà: Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 03/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐ-TA ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tiến H, sinh năm 1994.
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm1971; con bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Mai H2, sinh năm 1998; Con: có 02 con cùng sinh năm 2017.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương (có mặt).
- Các bị hại:
- + Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2005; Trú tại: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (xin vắng mặt).
- + Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 2001; Trú tại: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (xin vắng mặt).
- + Chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 2005; Trú tại: Khu Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tiến H sinh năm 1994 trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang là công nhân Công ty M thuộc Khu công nghiệp Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 19 giờ ngày 13/01/2024, H được nghỉ làm và đi ra tầng 2 nhà xe của Công ty lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát (BKS) 98D1-761.53 của H để đi về. Lúc này quan sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS 99D1-493.02 của chị Nguyễn Thị T sinh năm 2005 trú tại thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh dựng cạnh bên phải xe của H, ổ khóa điện chưa khóa cốp xe nên H nảy sinh ý định mở cốp chiếc xe của chị T để trộm cắp tài sản. H đứng giữa xe H và xe chị T rồi dùng tay trái ấn nút mở cốp xe chị T thì cốp xe mở bật lên. Tiếp đó H dùng tay trái mở cốp xe của chị T lên thì thấy 01 chiếc áo mưa ở phía trên cùng, H nhấc áo mưa bỏ ra bên ngoài thì thấy phía dưới có 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 7 plus màu hồng dung lượng 32GB, số IMEI: 35947008069037 của chị T; 01 chiếc điện thoại Iphone 12 promax màu vàng, dung lượng 256GB, số IMEI: 359735193431580 của chị Nguyễn Thị H3 sinh năm 2001 trú tại thôn P, xã T, huyện Y; 01 chiếc điện thoại Iphone 11 promax màu xanh, dung lượng 64GB, IMEI: 35285711420409 của chị Nguyễn Thị Thanh L sinh năm 2005, trú tại khu Đ, phường H, thành phố B, Bắc Ninh (chị T, chị H3 và chị L cùng làm công nhân thời vụ tại Công ty M). Thấy vậy H dùng tay phải lấy 03 chiếc điện thoại này để vào cốp xe mô tô của H rồi điều khiển xe ra khỏi cổng công ty. Sau đó, H dừng xe ở đối diện cổng công ty rồi tháo sim ở bên trong điện thoại ra vứt vào bãi cỏ bên đường và tắt nguồn điện thoại rồi điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 15/01/2024, H mang 03 chiếc điện thoại trộm cắp được đến cửa hàng điện thoại "Thi Thư" của anh Vũ Đình T1 sinh năm 1983, trú tại Thôn K, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang và nhờ anh T1 phá mật khẩu 03 chiếc điện thoại. Anh T1 đồng ý. Sau đó, anh T1 chỉ mở được mật khẩu chiếc điện thoại Iphone 7 plus, còn lại 02 chiếc điện thoại của chị H3 và chị L chưa phá được nên H mang cả 3 chiếc điện thoại về nhà.
Tối ngày 15/01/2024, Nguyễn Tiến H đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú, khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời tự nguyện giao nộp lại 03 chiếc điện thoại đã trộm cắp.
Tại kết luận định giá số 07 ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận:
- - 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 promax màu vàng, dung lượng 256GB, IMEI: 359735193431580 (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 12.000.000 đồng;
- - 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 11 promax, màu xanh, dung lượng 64GB, IMEI: 35285711420409 (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 8.500.000 đồng;
- - 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 7 plus, màu hồng, dung lượng 32GB, IMEI: 35947008069037 (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 2.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà H trộm cắp là 23.000.000 đồng.
Về thu giữ và xử lý vật chứng: Ngày 23/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe trên cho chị T, chị H3 và chị L.
Về bồi thường dân sự: Chị T, chị H3, chị L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Với hành vi trên tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKSYP ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Tiến H khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt: Những người bị hại là chị Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị Thanh L cùng thống nhất trình bày:
Khoảng 19h ngày 13/01/2024, tại tầng 2 nhà xe của Công ty TNHH M thuộc Khu công nghiệp Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Nguyễn Tiến H đã lén lút trộm cắp: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng trị giá 2.500.000đ của chị Nguyễn Thị T; 01 chiếc điện thoại di động Iphone12 Promax màu vàng trị giá 12.000.000₫ của chị Nguyễn Thị H3; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu vàng trị giá 8.500.000đ của chị Nguyễn Thị Thanh L. Sau khi sự việc xảy ra, đến nay Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại tài sản bị trộm cắp cho các chị. Do vậy về trách nhiệm dân
sự, các chị không yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, các chị đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Đại diện VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố theo bản Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 01/4/2024. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo H.
- * Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
- * Về vật chứng: Không.
Bị cáo H không có ý kiến gì tranh luận và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc kHải nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản nhận dạng, biên bản dẫn giải, tang vật thu hồi được và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 13/01/2024, tại tầng 2 nhà xe của Công ty TNHH M thuộc khu công nghiệp Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, lợi dụng sơ hở Nguyễn Tiến H đã lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng trị giá 2.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị T; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng trị giá 12.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị H3 và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh trị giá 8.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thanh L. Tổng giá trị tài sản mà H đã trộm cắp là 23.000.000 đồng. Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chị T, chị H3 và chị L. Do vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo H về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người có tài sản, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo phạm tội ở nơi có dân cư đông đúc, điều đó thể hiện sự liều lĩnh, manh động, coi thường pháp luật của các bị cáo. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình bị truy tố dựa trên tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã ra đầu thú., những người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần giao về cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giáo dục cũng đủ sức răn đe và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
[7] Về vật chứng: Không.
- - Đối với 01 chiếc đĩa CD hỏi cung bị can cần lưu trong hồ sơ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
- - Liên quan trong vụ án này có: Đối với anh Vũ Đình T1 là người đã nhận mở khóa mật khẩu điện thoại cho H. Do H không nói cho anh T1 biết nguồn gốc những chiếc điện thoại của H đưa là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xem xét xử lý mà chỉ gọi hỏi, nhắc nhở là phù hợp pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Tiến H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo H.
Giao bị cáo Nguyễn Tiến H về UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Tiến H muốn thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- * Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
- * Về vật chứng: Không.
Lưu trong hồ sơ 01 đĩa CD hỏi cung bị can.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Bị cáo: Nguyễn Tiến H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- + Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./..
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Xuân Hà |
Bản án số 77/2024/HSST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 77/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H phạm tội trộm căp tài sản
