Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 77/2024/HSST

Ngày 13 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông: Lê Hữu Luân
  • 2/ Ông Nguyễn Hoàng Tú

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc V – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Hoàng Anh D, tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 03/11/1977 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Căn hộ B1-0.19 chung cư E Tây S, Đường số A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn T và con bà Lương Thị Q (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Hòa V1. Tiền sự: không. Tiền án: Ngày 23/01/2008, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 05 năm tù về tội Cướp giật tài sản, với tình tiết tái phạm nguy hiểm, theo Bản án số 13/HSST, đã thi hành xong hình phạt tù vào ngày 01/7/2011, nộp án phí vào ngày 09/7/2008, chưa hoàn thành hình phạt tiền. (BL 73-78)

Nhân thân:

  • - Ngày 24/8/2001, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 04 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo Bản án số 292/HSPT, đã thi hành xong hình phạt tù vào ngày 02/9/2002, nộp án phí vào ngày 22/01/2002 và tiền sung công quỹ vào ngày 10/9/2003. (BL 67-72)
  • - Ngày 13/01/2004, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản với tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm, theo Bản án số 103/HSST, đã thi hành xong hình phạt tù vào ngày 08/11/2006 và nộp án phí vào ngày 17/5/2004. (BL 59-61, 65-66)

Tạm giam từ ngày 22/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Nguyễn Khánh T1.

Địa chỉ: 2 B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Hoàng Anh D là người nghiện ma túy, nên vào ngày 22/11/2023, D đã liên lạc qua Z cho một người tên N, là bạn quen biết xã hội, hỏi mua 01 hộp 05 ma túy đá, sau đó điều khiển xe mô tô đến đầu hẽm B P, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, để gặp N lấy ma túy. Khi gặp N, D đưa 1.900.000 đồng tiền mặt rồi nhận ma túy được chứa trong 01 gói nylon, bỏ trong 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SAIGON. D cất bao thuốc lá này vào giỏ phía trước xe rồi rời đi. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, khi D đang trên đường về đến bên hông nhà địa chỉ số B đường X, Phường A, quận B, thì bị kiểm tra phát hiện đang cất giấu số ma túy trên. Tiến hành khám xét tại nơi ở của D, phát hiện và thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa, D khai nhận là của D dùng để sử dụng ma túy. (BL 44, 45)

Kết luận giám định số 13148 ngày 30/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, số ma túy bị thu giữ là loại Methamphetamin có khối lượng 4,9643 gam. (BL 30)

Vật chứng:

  • - 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, là ma túy còn lại sau giám định (4,8791 gam);
  • - 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SAIGON;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số sim 0901380115, được D sử dụng để liên lạc mua ma túy;
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 5382-9144 có số khung số máy nguyên thủy. D khai mua của 01 người không nhớ tên, địa chỉ, khi mua không có giấy đăng ký xe, không có giấy tờ mua bán xe. Kết quả xác minh xe được đăng ký bởi anh Đặng Nguyễn Khánh T1. Làm việc với anh T1, xác định anh T1 là chủ sở hữu của xe, nhưng bán xe đã lâu, không còn nhớ bán cho ai và cũng không làm giấy tờ mua bán, sang tên khi bán. Anh T1 không có yêu cầu gì đối với xe này. (BL 80-85)
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy: gồm 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Bản cáo trạng số 90/CTr-VKSBT ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Hoàng Anh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o, khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Lê Hoàng Anh D đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 4,9643 gam loại Methamphetamin để sử dụng cho bản thân.

Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo Lê Hoàng Anh D từ 6 năm tù đến 7 năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:

Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 22/11/2023, tại bên hông nhà địa chỉ số B đường X, Phường A, quận B, Lê Hoàng Anh D có hành vi cất giấu 4,9643 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng, thì bị bắt quả tang. Bị cáo cất giấu số ma túy trên để bản thân sử dụng, ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Xét bị cáo đã tái phạm, tính đến ngày phạm tội mới bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung, áp dụng theo khoản 2, Điều 53 Bộ luật hình sự. Vì vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh truy tố bị cáo theo điểm o, khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở pháp lý, nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc truy tố này.

Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Lê Hoàng Anh D đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o, 2, Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.

[3] Bằng ý thức của mình, bị cáo biết rõ đây là loại biệt dược gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý vì chúng có tính gây nghiện mạnh, hủy hoại sức khỏe và khả năng lao động, làm cho thần kinh của người nghiện bị tổn hại dẫn đến rối loạn hành vi, dẫn tới suy yếu nòi giống, là nguồn gốc và điều kiện phát sinh lan truyền các căn bệnh nguy hiểm, nhất là đại dịch HIV/AIDS. Do đó, Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động tàng trữ trái phép các chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình lén lút tàng trữ, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi ấy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta về chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội đồng thời gián tiếp là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội khác, làm băng hoại đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến việc phát triển đúng đắn nên Hội đồng xét xử thấy cần có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trên địa bàn.

[4] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng Anh D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[5] Lẽ ra Hội đồng xét xử phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nhưng xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không có động cơ vụ lợi nên miễn phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Hoàng Anh D.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, là ma túy còn lại sau giám định (4,8791 gam); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SAIGON; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy: gồm 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa. Đây là chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép và dụng cụ sử dụng ma túy, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số sim 0901380115, được D sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 5382-9144 có số khung C.100 ME 05389, số máy C100MEE5389, loại xe hai bánh từ 50 đến 175 cm³, dung tích xi lanh: 97 cm³, vỏ ngoài thực tế đã bị thay đổi, màu sơn: nâu và đen, bể cốp trái, có ghi chữ Dream II, bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung quỹ.

[7] Đối với đối tượng N mà bị cáo D khai là mua ma túy của N, hiện chưa xác minh được lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

    Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 ; điểm s, khoản 1, Điều 51 ; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: bị cáo Lê Hoàng Anh D 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 22/11/2023.

  2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, là ma túy còn lại sau giám định (4,8791 gam); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SAIGON; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy: gồm 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số sim 0901380115, 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 53S2-9144 có số khung C.100 ME 05389, số máy C100MEE5389, loại xe hai bánh từ 50 đến 175 cm³, dung tích xi lanh: 97 cm³, vỏ ngoài thực tế đã bị thay đổi, màu sơn: nâu và đen, bể cốp trái, có ghi chữ Dream II.

    (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)

  3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Lê Hoàng Anh D phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Lê Hoàng Anh D được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. HCM;
  • - VKSND Q. Bình Thạnh;
  • - Công an Q. Bình Thạnh;
  • - CC THA DS Q. Bình Thạnh
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thanh Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HSST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 77/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng Anh D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger