Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HSST

Ngày 09 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Cẩm Hà

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Sỹ Long

2. Bà Dương Thị Diễm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 9 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TL - HSST ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Nguyễn Thị H, sinh năm: 1974; ĐKNKTT: SỐ E B, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số B ngách C D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Văn P; Họ và tên mẹ: Phạm Thị B (Đã chết). Họ và tên chồng: Nguyễn Hoài N (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Có 02 tiền án đã xóa: Bản án số 284 ngày 23/4/2003, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt tiền 5.000.000 đồng, phải nộp 50.000 đồng phí sơ thẩm. Xác minh tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, qua kiểm tra hồ sơ, sổ sách tại thời điểm hiện tại không có thông tin của Nguyễn Thị H về việc thi hành bản án số 284. Ra trại ngày 09/10/2009; Bản án số 120 ngày 15/07/2015, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử phạt 09 tháng tù
  2. giam về tội “Tổ chức đánh bạc”, phải nộp 200.000 đồng phí sơ thẩm. Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, Nguyễn Thị H đã thi hành xong khoản án phí trên theo biên lai thu số 2256 ngày 15/08/2016. Ra trại ngày 27/10/2015. Bị cáo bị bắt ngày: 18/12/2023; Có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Xuân T, sinh năm: 1996; ĐKNKTT: Khu 17 xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: Số B ngách C D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Họ và tên bố: Nguyễn Tiến C; Họ và tên mẹ: Phạm Thị T1; H1 và tên vợ: Nguyễn Thị H2 (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 0 tiền sự đã hết thời hiệu: Năm 2020, đi cai nghiện bắt buộc 18 tháng; Bị cáo bị bắt ngày : 18/12/2023; Có mặt tại phiên tòa.
  4. Nguyễn Hồng Q, sinh năm: 1991; ĐKNKTT: Số E tổ D, phường P, thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nơi ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Tiến H3; Họ và tên mẹ: Đặng Thị L; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày: 18/12/2023. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị HNguyễn Xuân T là bạn bè. T đã nhiều lần mua ma túy của Nguyễn Thị H để sử dụng. Khoảng 01 tuần trước khi bị bắt, H thuê T đi bán ma túy cho H và trả công 100.000 đồng/01 ngày. H thường mua ma túy của 01 đối tượng nữ giới không quen biết tại khu vực N, Đào T2, B, Hà Nội sau đó về chia nhỏ để bán lại. H mua của đối tượng trên 03 lần, mỗi lần 6.000.000 đồng. Khoảng 7 giờ 45 ngày 18/12/2023, H đi xe ôm từ phòng trọ tại địa chỉ 2B ngách 37/2/2 D, P. D, Cầu G, Hà Nội đến khu vực Nguyễn Văn N1, mua của đối tượng nữ giới trên 6.000.000 đồng heroine. Mua xong, H mang về phòng trọ tại số G ngõ C D, Phường D, Cầu G, Hà Nội, chia nhỏ thành 38 gói heroine bọc bằng giấy kẻ sọc, trắng và 25 gói bọc nilon màu ghi, trắng, đen. H đã đưa cho Nguyễn Xuân T 01 túi nilon bên trong có 10 gói heroine bọc nilon màu đen để T bán cho khách với giá 500.000 đồng/01 gói và 01 túi ni lông bên trong có 20 gói heroine bọc giấy kẻ xọc để bán cho khách với giá 200.000 đồng/01 gói. T cầm 02 túi ni lông chứa heroine chị H đưa cất vào ống tay áo bên trái áo khoác đang mặc rồi đi xe máy Wave màu đen BKS 19L1 - 32333 mang heroine đi bán cho khách. Trong khoảng thời gian từ 08h đến 14h cùng ngày T đã bán được 02 gói heroine bọc nilon màu đen với giá 500.000 đồng/01 gói và 04 gói heroine bọc giấy kẻ xọc với giá 200.000 đồng/01 gói. Đến khoảng 14 giờ 05 cùng ngày, khi đang ở phố Đ thì Nguyễn Hồng Q sử dụng số điện thoại 0363.547.xxx

gọi vào số điện thoại 0877.192.xxx của T hỏi mua 01 gói heroine với giá 500.000 đồng, T đồng ý và hẹn Q đến Cổng viện 354 phố Đ, phường V, B, Hà Nội để giao dịch. Khoảng 40 phút sau, Q đi xe máy chở theo bạn là Lò Thị K (Sinh năm: 1987; Trú tại: Bản M, H, TX N, Yên Bái) đến đỗ xe dưới lòng đường. K ngồi chờ trên xe, còn Q đi bộ vào gặp T, Q lấy ra 500.000 đồng đưa cho T để mua 01 gói heroine, T cầm tiền cất vào túi giả da màu đen đang đeo, rồi lấy ra 01 gói heroine bọc nilon màu đen đưa cho Q. Q cầm gói heroine đi ra xe máy chỗ K đang đứng chờ. Đúng lúc đó thì cả 02 bị Cơ quan công an kiểm tra bắt giữ. Lò Thị K không biết việc mua bán ma túy của TQ. Sau khi Nguyễn Xuân T bị bắt giữ, khoảng 20h30 ngày 18/12/2023, Nguyễn Thị H đã đến Cơ quan Công an đầu thú.

T đã bán ma túy cho Nguyễn Hồng Q 03 lần, lần thứ nhất vào chiều 14/12/2023, bán 01 gói heroine với giá 200.000 đồng. Lần thứ hai vào chiều ngày 16/12/2023, bán 01 gói heroine với giá 200.000 đồng, lần thứ ba là bị bắt quả tang. Ngoài ra, T đã bán nhiều lần ma túy nhưng T chỉ nhớ trong ngày 18/12/2023, trước khi bị bắt, T đã bán ma túy cho 05 đối tượng khác nhau, cụ thể: Bán cho đối tượng “Hùng béo – 0564144862” 01 gói heroine với giá 200.000 đồng. Bán cho đối tượng “Trọng – 0397025556” 01 gói heroine với giá 200.000 đồng. Bán cho đối tượng “Quyền bạn H4 – 0825932928" 02 gói heroine với giá 200.000 đồng. T bán heroine cho 03 đối tượng trên đều ở khu vực M. T bán ma túy cho 02 đối tượng còn lại tại khu vực phố Đ và cổng bệnh viện C1 – Đốc Ngữ nhưng T không có số điện thoại của 02 đối tượng trên.

Thu giữ của Nguyễn Xuân T: 16 gói giấy kẻ sọc chứa chất bột màu trắng, 07 gói nilon màu đen chứa chất bột màu trắng, 2.300.000 đồng, 01 điện thoại Oppo màu đen, số sim: 0877192022. 01 xe máy Wave BKS 19L1 – 32333; Thu giữ của Nguyễn Hồng Q: 01 gói nilon màu đen chứa chất bột màu trắng, 01 điện thoại Oppo đã cũ, 2.000 đồng, 01 xe máy BKS 21K1 – 10827; Thu giữ của Nguyễn Thị H: 18 gói giấy kẻ sọc chứa chất bột màu trắng, 15 gói nilon (05 gói màu ghi, 04 gói màu đen, 06 gói màu trắng) đều chứa chất bột màu trắng, 930.000 đồng, 01 điện thoại Oppo màu xanh, số sim1: 0982583030, sim 2: 0789543030.

Bản Kết luận giám định số 8473/KLGĐ – PC09 ngày 26/12/2023 của phòng PC09 - C2 kết luận:

  • - Tang vật thu giữ của Nguyễn Xuân T gồm:
  • + Chất bột màu trắng bên trong 16 gói giấy kẻ sọc (để trong 01 túi nilon) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 1,498 gam.
  • + Chất bột màu trắng bên trong 07 gói nilon màu đen (để trong 01 túi nilon) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 1,617 gam.
  • - Tang vật thu giữ của Nguyễn Hồng Q gồm:
  • + Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,288 gam.
  • - Tang vật thu giữ của Nguyễn Thị H gồm:
  • + Chất bột màu trắng bên trong 18 gói giấy kẻ sọc đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 1,238 gam.
  • + Chất bột màu trắng bên trong 15 gói nilon (05 gói nilon màu ghi, 04 gói nilon màu đen, 06 gói nilon màu trắng, tất cả để trong 01 túi nilon) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 3,339 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Thị HNguyễn Hồng Q khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh những đối tượng mua ma túy của Nguyễn Xuân T, xác định đối tượng sử dụng số điện thoại 0825.932.xxx tên Nguyễn Hoàng Q1 (Sinh năm: 1980, HKTT: Số E ngách E T, tổ B Phường M, Cầu G, Hà Nội) là đối tượng đã mua 02 gói heroine với giá 200.000 đồng của T ngày 18/12/2023. Nguyễn Hoàng Q1 khai nhận mua 02 gói heroine của T về để sử dụng, Q1 đã sử dụng hết. Lời khai của Q1 phù hợp với lời khai của T. Do đó, không có căn cứ xác định khối lượng heroine Q1 đã mua của T nên hành vi của Q1 không đủ cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với các đối tượng còn lại mua ma túy của Nguyễn Xuân T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Lò Thị K, K không biết Q đi mua ma túy để sử dụng nên Cơ quan điều tra không tiến hành xử lý đối với K.

Đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Thị H, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe máy Wave BKS 19L1 - 32333 thu giữ của Nguyễn Xuân T, Cơ quan điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Minh Đ (Sinh năm: 1987; Trú tại: K, Đ, T, Phú Thọ) là anh của Nguyễn Xuân T. Anh Đ có cho T mượn xe để đi làm, anh Đ không biết việc T sử dụng xe để đi bán ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho anh Đ.

Đối với chiếc xe máy BKS 21K1 - 10827 thu giữ của Nguyễn Hồng Q, Cơ quan điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Lò Thị P1 (Sinh năm: 1978; Trú tại: Pom B, Tú L1, V, Yên Bái), cô của Lò Thị K. Việc K mượn chiếc xe máy trên sau đó cho Q mượn lại và sử dụng đi mua ma túy, chị P1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho chị P1.

Tại bản cáo trạng số: 63/CT-VKS ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, điểm i, khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c, khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Các bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo giống như bản cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b, i, khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 11 năm đến 12 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy;
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T mức án 8 năm 6 tháng đến 9 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 3,115 gam heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Xuân T; 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,288 gam ma túy heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Hồng Q; 01 bao niêm phong bên trong chứa 4,577 gam ma túy heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Thị H;
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, số sim: 0877192022; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu hồng đã cũ, bị vỡ màn hình; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đã cũ, số sim1: 0982583030, sim 2: 0789543030; 01 túi giả da màu đen và 3.232.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân T, bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Hồng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi các bị cáo Nguyễn Xuân T, Nguyễn Thị HNguyễn Hồng Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng K1 công an thành phố H cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 18/12/2023, tại khu vực cổng bệnh viện 354 phố Đ, phường V, quận B, thành phố Hà Nội, Nguyễn Xuân T có hành vi bán trái phép 0,288 gam ma túy heroine cho Nguyễn Hồng Q thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng. Ngoài hành vi trên, Nguyễn Xuân T đã bán ma túy cho Nguyễn Hồng Q 03 lần vào các ngày 14, ngày 16, ngày 18/12/2023 và nhiều đối tượng khác nhau. Tổng khối lượng ma túy heroine thu giữ của Nguyễn Xuân T mang đi bán ngày 18/12/2023 là 3,403 gam. Nguyễn Thị H có hành vi đưa ma túy cho Nguyễn Xuân T mang đi bán ma túy cho nhiều đối tượng khác nhau. Tổng khối lượng ma túy heroine thu giữ của Nguyễn Thị H5 và khối lượng ma túy heroine H đưa cho T mang đi bán là 7,98 gam.

Xét, hành vi bị cáo Nguyễn Thị H phạm vào tội mua bán trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b,i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Nguyến Xuân T3 phạm vào tội Mua bán trái phép ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm vào tội Tàng trữu trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự

[3]. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i, khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[4]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì, ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy nhưng các bị cáo vẫn coi thường pháp luật. Trong vụ án bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Xuân T do ham hưởng lợi bất chính đã mua bán ma túy để kiếm lời, bị cáo Nguyễn Hồng Q tàng trữ bất hợp pháp chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý chất ma túy, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi mà tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, bởi chất ma túy là chất gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm, tạo nên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng.. Do vậy, cần phải xét xử các bị cáo nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Xuân T, Nguyễn Thị HNguyễn Hồng Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, tại cơ quan điều tra các bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về nhân thân: Nhân thân bị cáo H có 02 tiền án đã xóa án tích, bị cáo T có 01 tiền sự đã ngoài thời hiệu thể hiện các bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn đi vào con đường phạm tội.

[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Xuân T, bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Hồng Q không có đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội bình thường, mà

cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 3,115 gam heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Xuân T; 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,288 gam ma túy heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Hồng Q; 01 bao niêm phong bên trong chứa 4,577 gam ma túy heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Thị H và 01 túi giả da màu đen không còn giá trị sử dụng.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, số sim: 0877192022 thu giữ của Nguyễn Xuân T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu hồng đã cũ, bị vỡ màn hình thu giữ của Nguyễn Hồng Q, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đã cũ, số sim1: 0982583030, sim 2: 0789543030 thu giữ của Nguyễn Thị H liên quan đến việc phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ Nhà nước; - Số tiền 930.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị H và 2.300.000 đồng thu giữ Nguyễn Xuân T liên quan đến việc phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ Nhà nước;
  • - Số tiền 2.000 đồng thu giũ của Nguyễn Hồng Q không liên quan đến việc phạm tội nhưng cho tịch thu sung quỹ Nhà nước theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 điều 251 (Đối với Nguyễn Thị H); điểm b khoản 2 Điều 51 (đối với Nguyễn Xuân T); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với

Nguyễn Hồng Q); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 ; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  • - Xử phạt: Nguyễn Thị H 12 (mười hai) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2023.
  • - Xử phạt: Nguyễn Xuân T 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2023.
  • - Xử phạt: N2 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2023.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 3,115 gam heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Xuân T; 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,288 gam ma túy heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Hồng Q; 01 bao niêm phong bên trong chứa 4,577 gam ma túy heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Thị H và 01 túi giả da màu đen không còn giá trị sử dụng; Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo biên bản bàn giao vật chứng số 135 ngày 03/5/2024.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, số sim: 0877192022, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu hồng đã cũ, bị vỡ màn hình, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đã cũ, số sim1: 0982583030, sim 2: 0789543030; Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo biên bản bàn giao vật chứng số 135 ngày 03/5/2024.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 3.232.000 đồng; Theeo giấy nộp tiền của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày 15/4/2024;

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày 09 tháng 5 năm 2024.

Nơi nhận:

  • - TAND TP thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số I Hà Nội;
  • - UBND phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội;
  • - UBND phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Hoàng Xá, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lô, tỉnh Yên Bái;x
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Cẩm Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HSST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 77/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Nguyễn Thị H 12 (mười hai) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt: Nguyễn Xuân T 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt: N2 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger