TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HS-PT Ngày: 26/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Lê Thị Thái Lan;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 80/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc C, do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 26/11/1986, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: thợ nhôm; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: N (chết) và bà Hồ Thị C1, sinh năm 1959; Có vợ: Đỗ Thị Phương D, sinh năm 1987 và 01 con: sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: ngày 31/12/2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khoẻ người khác, chấp hành xong ngày 02/01/2024; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại có kháng cáo: ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1971; địa chỉ: khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 30/10/2023, Nguyễn Ngọc C đến quán cà phê của ông Nguyễn Xuân T1 tại khu phố N, phường H, thị xã Đ uống cà phê thì gặp Nguyễn Xuân T, sinh năm 1971 (chú ruột Chơn), trú cùng khu phố N. Chơn và T có mâu thuẫn từ trước trong việc tranh chấp đất ruộng nên C đi về thì T gọi C lại nói chuyện. Triều hỏi Chơn làm ruộng của ông bà nội để lại nhưng khi thu hoạch không đưa lúa cho T, C nói ruộng C làm không đưa lúa cho ai. Triều và C cãi nhau, C cầm ly sứ uống nước trà ném trúng mũ bảo hiểm Triều đội trên đầu rồi bỏ đi, T chửi Chơn mất dạy, C quay lại, cầm cái ghế nhựa đánh T 02 cái hướng từ trên xuống, T giơ 02 tay lên đỡ trúng khuỷu tay trái, cổ tay phải, chân ghế trúng hạ sườn phải của T gây thương tích. Sau đó, C đi về, T trình báo sự việc cho cơ quan Công an, đi khám bệnh, phát hiện bị gãy 02 xương sườn bên phải, Triều nhập bệnh viện đa khoa tỉnh P điều trị thương tích. Ngày 08/01/2024, T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Bản kết luận giám định lại tổn thương cơ thể trên người sống số 34/KLTTCT-PVPYQG ngày 07/02/2024 của Phân viện pháp y Quốc gia thành phố H kết luận: Tại thời điểm giám định thương tích của Nguyễn Xuân T là 10%, do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc C – 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải tiếp tục bồi thường số tiền 24.422.529 đồng cho ông Nguyễn Xuân T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/8/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc C kháng cáo xin được hưởng án treo. Ngày 12/9/2024 bị cáo có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo.
Ngày 08/8/2024, bị hại Nguyễn Xuân T kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo, tăng bồi thường trách nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi gây thương tích cho bị hại T, sau khi xét xử sơ thẩm vợ bị cáo có qua nhà bị hại bồi thường 20.000.000đ nhưng bị hại không nhận. Bị cáo chấp nhận mức án và số tiền bồi thường như bản án sơ thẩm tuyên.
Bị hại Triều giữ nguyên kháng cáo tăng hình phạt vì bị cáo không ăn năn hối cải và yêu cầu tăng bồi thường trách nhiệm dân sự, tăng ngày công lao động vì nếu bị hại không bị thương sẽ làm công việc đổ bêtông ngày công 410.000đ/ngày.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS; không chấp nhận kháng cáo của bị hại – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ dùng vào việc phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 30/10/2023, Nguyễn Ngọc C tại khu phố N, phường H, thị xã Đ, Nguyễn Ngọc C có hành vi dùng ghế nhựa đánh trúng khuỷu tay trái, cổ tay phải, hạ sườn phải của anh Nguyễn Xuân T gây thương tích tỷ lệ 10%. Tuy tỷ lệ thương tích của bị hại dưới 11% nhưng bị cáo đã dùng ly sứ, ghế nhựa, là “hung khí nguy hiểm” ném, đánh bị hại nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Ngày 05/8/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc C kháng cáo xin được hưởng án treo. Tuy nhiên, ngày 12/9/2024 và tại phiên toà, bị cáo xin rút toàn bộ kháng cáo. Xét đơn xin rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện nên hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo nên hội đồng xét xử vẫn xem xét giải quyết phần hình phạt đối với bị cáo.
[3] Xét kháng cáo của bị hại, hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Đối với kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại trái pháp luật, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã nộp khắc phục thiệt hại 2.000.000 đồng quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo mà chấp nhận ý kiến đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[3.2] Đối với kháng cáo tăng phần bồi thường dân sự: Bị hại Nguyễn Xuân T yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 52.077.529 đồng gồm: tiền thuốc và viện phí: 3.232.529 đồng; tiền xe, tiền ăn đi giám định: 595.000 đồng; tiền công lao động: 90 ngày x 410.000 đồng =36.900.000 đồng; tiền công người nuôi bệnh: 07 ngày x 150.000 đồng = 1.050.000 đồng; tiền ăn khi nằm viện 300.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: trên cơ sở hoá đơn, chứng từ do bị hại cung cấp; căn cứ các quy định tại Điều 590 BLDS và Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022, xét thời gian bị hại điều trị tại bệnh viện, nghề nghiệp của bị hại, của người nuôi bệnh, cấp sơ thẩm đã xem xét chấp nhận các khoản gồm viện phí, thuốc điều trị, tiền xe, bồi thường tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện và thời gian phục hồi sức khoẻ, tiền bồi dưỡng, bồi thường tổn thất tinh thần với tổng số tiền 26.422.529₫ là có căn cứ. Do đó, bị hại kháng cáo tăng mức bồi thường dân sự nhưng không có cơ sở chấp nhận mà chấp nhận ý kiến đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.
[4] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị hại – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về Hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc C – 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Xuân T số tiền 26.422.529đ, bị cáo đã bồi thường 2.000.000₫ nên còn tiếp tục phải bồi thường 24.422.529 đồng.
Bị hại Nguyễn Xuân T được nhận 2.000.000đ số tiền bồi thường thiệt hại do bị cáo C nộp tại Biên lai thu tiền số 0001521 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và phần nghĩa vụ chưa thi hành.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Ngọc C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Hà |
Bản án số 77/2024/HS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 77/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc C
