|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày: 28/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Nghĩa Toàn và ông Trần Văn Hải.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Nam A, tên gọi khác: không; sinh ngày: 08 tháng 11 năm 2005, tại Thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn B; con bà: Trần Thị Thu H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 05/9/2024 đến ngày 14/9/2024 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người bị hại:
- Chị Vương Thị Như Q, sinh năm: 1996; nơi cư trú: Xóm E, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
- Anh Ngô Cao N, sinh năm: 1992; nơi cư trú: Xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Xóm Y, xã H, huyện H. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1994; nơi đăng ký HKTT: Thôn L, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện nay: K, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Trương Văn B1, sinh năm: 1984; nơi cư trú: Xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Công ty TNHH L1; địa chỉ: Số A đường số C Khu công nghiệp V, huyện H, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông TU QIJANG – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn L; sinh năm: 1985; địa chỉ: Chung cư C, khối C, phường V, thành phố V; nơi công tác: Công ty TNHH L1. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Nam A là công nhân của Công ty L1 (sau đây gọi tắt là Công ty L1) thuộc Khu công nghiệp V, xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Quá trình làm việc tại Công ty, Trần Nam A biết rõ khoảng 13 giờ 30 hàng ngày, công nhân bắt đầu vào làm việc và để đồ đạc trong tủ đồ cá nhân (Theo quy định của Công ty không được đưa điện thoại lên khu vực sản xuất). Do khu vực tủ đồ công nhân không có người trông coi nên Anh đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 13 giờ ngày 04/9/2024, Trần Nam A mặc áo khoác nắng màu xanh đen vàng, mang theo chiếc kìm điện đã chuẩn bị sẵn trong người, đi xe đạp đến Công ty L2 để làm việc. Sau khi vào Công ty, Trần Nam A đến khu vực tủ đồ của hai xưởng BU11 và BU17, tòa nhà A3, khu A, tầng 1, thấy không có ai trông coi nên Anh đã lén lút sử dụng kìm điện bẻ 07 (bảy) khóa tủ để đồ của công nhân. Khi phá khóa mở tủ số D520 của chị Vương Thị Như Q thấy trong tủ có 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh. Anh đã lấy trộm chiếc điện thoại này rồi bỏ vào túi quần bên trái của mình. Sau đó, Anh mở tủ số D516 của anh Ngô Cao N và lấy trộm của anh N số tiền 1.650.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) rồi bỏ vào túi quần bên phải của mình. Lấy được các tài sản trên, Trần Nam A ra cổng lấy xe đạp của mình rời khỏi Công ty và đạp xe đến cửa hàng Công Danh Mobile, địa chỉ số G N, khối L, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An để bán chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh đã trộm được cho chị Nguyễn Thị T (Là chủ cửa hàng) với giá 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngày 05/09/2024, nhận thức được hành vi phạm tội của mình, Trần Nam A đến Công an xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An để đầu thú tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an số tiền 1.650.000 đồng trộm cắp được và số tiền 3.500.000 đồng mà A đã bán điện thoại được.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 44/KL-ĐGTS ngày 12/9/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện H kết luận: Chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số IMEI 352852110883517 đã qua sử dụng (Bị sọc dọc mép màn hình) tại thời điểm định giá có giá là 3.850.000 đồng (ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 48/KL-ĐGTS ngày 22/9/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện H kết luận: Bảy (07) ổ khoá bấm, thân màu vàng đồng, đã qua sử dụng, trên hai bên thân có chữ “Việt N1” kích thước thân 2x2cm, thời điểm định giá trị giá là 280.000 đồng (hai trăm tám mươi nghìn đồng).
Tại Kết luận trưng cầu giám định số 190/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 17/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Số tiền 1.650.000 đồng (một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) mà bị cáo tự nguyện giao nộp gửi giám định là tiền thật.
Tại Kết luận giám định số 212/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 22/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) mà bị cáo tự nguyện giao nộp gửi giám định là tiền thật.
Cáo trạng số 79/CT-VKS-HN ngày 11/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Nam A về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa Trần Nam A đã khai nhận hành vi mà bị cáo A thực hiện vào ngày 04/9/2024 giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Nam A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Nam A từ 07 (bảy) đến 09 tháng cải tạo không giam cáo được trừ đi thời gian bị tạm giữ 09 ngày quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ; Về vật chứng: Đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình 2015: Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc kìm điện bằng sắt màu đỏ đen; Trả lại cho bị cáo Trần Nam A số tiền 3.500.000₫ (ba triệu năm trăm nghìn đồng); về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau; phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 04/9/2024, tại Công ty L1 thuộc Khu công nghiệp V, xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, Trần Nam A đã lén lút dùng kìm điện bẻ khoá tủ đựng đồ cá nhân của chị Vương Thị Như Q trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh, số IMEI 352852110883517 được định giá là 3.850.000đ; bẻ khóa tủ đựng đồ cá nhân của anh Ngô Cao N trộm cắp số tiền 1.650.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà Trần Nam A trộm cắp trong ngày 04/9/2024 là 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng).
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nên hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Đây là vụ án xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị là 5.500.000 đồng. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên bị cáo sẽ được hưởng những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Do bị cáo tuổi đời còn non trẻ, nhất thời phạm tội, phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư rõ ràng. Nên chưa cần thiết cách ly bị cáo mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo. Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là hình phạt tiền) đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại chị Vương Thị Như Q và anh Ngô Cao N đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nay không yêu cầu gì thêm nên Tòa miễn xét.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH L1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường 07 ổ khóa bấm, thân màu vàng đồng đã bị hỏng do hành vi bẻ khóa của bị cáo nên Tòa miễn xét.
[6]. Về vật chứng: Vật chứng còn lại gồm: Số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 (một) chiếc kìm điện bằng sắt màu đỏ đen.
Xét thấy: Do vào ngày 20/9/2024, bị cáo cùng với gia đình đã tự nguyện hoàn trả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T số tiền 3.500.000đ nên số tiền 3.500.000đ mà bị cáo tự nguyện giao nộp khi đi đầu thú sẽ trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc kìm điện là tài sản của ông Trần Văn B (bố bị cáo). Bị cáo đã sử dụng chiếc kìm này làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa ông B từ chối nhận lại và không có yêu cầu gì nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Đối với hành vi dùng kìm cắt phá làm hỏng 07 (bảy) ổ khoá của Công ty L1 của bị cáo. Do trị giá tài sản bị thiệt hại chỉ là 280.000 đồng và bị cáo chưa từng bị xử phạt hành chính và cũng chưa từng bị kết án nên hành vi của bị cáo không phạm tội: “Tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Đối với chị Nguyễn Thị T là người đã mua điện thoại của Trần Nam A. Tuy nhiên, do chị T không biết đó là tài sản phạm tội mà có nên không phạm tội.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Nam A phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Nam A 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ đi thời gian bị tạm giữ 09 ngày quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
3. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc kìm điện bằng sắt màu đỏ đen. Trả lại cho bị cáo Trần Nam A số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng).
(Số tiền 3.500.000₫ nêu trên được bỏ vào túi niêm phong gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện H theo biên bản giao nhận tài sản số 08/2024/BBGN-CAHN lập ngày 25/10/2024 giữa Công an huyện H với Kho bạc Nhà nước huyện H).
(Đặc điểm chi tiết của vật chứng là chiếc kìm điện theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 12/11/2024 giữa Công an huyện H và Cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Nam A phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thanh |
HỘI THẨM NHÂN DÂN
|
Hoàng Nghĩa Toàn |
Trần Văn Hải |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án trộm Trần Nam Anh
