|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày: 13-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Đẹp và ông Nguyễn Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ái Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Hội trường Ủy ban nhân dân xã T, Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã tiến hành xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Duy C, tên gọi khác: D, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1982, tại thành phố S, tỉnh Đ; Nơi cư trú: Số C, đường Đ, khóm T, phường A, thành phố S, Đ; Nghề nghiệp: Mua bán (Tại phiên tòa bị cáo xác định bản thân có nghề nghiệp là chủ cơ sở kinh doanh tro củi trấu); Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn B (đã chết) và con bà: Lưu Thị H; A, chị, em: Có 01 người, sinh năm 1979, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Võ Thị Thu L, sinh năm 1988 (đã ly hôn năm 2013); Con: 01 người, sinh năm 2013, Tiền án, tiền sự: Chưa có; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Ông Trương Vĩnh T, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Số G, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Duy C và ông Trương Vĩnh T có quen biết từ trước nhưng có mâu thuẫn cá nhân với nhau. Khoảng 11 giờ ngày 13/6/2023, Trần Duy C một mình điều khiển xe mô tô biển số 6651-206.12 lưu thông trên đường H, khi đến giao lộ đường H – đường ĐT848, thuộc khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ đang rẽ phải thì thấy xe ô tô biển số 66A-042.07 do ông Trương Vĩnh T điều khiển cũng vừa chạy đến và chuyển hướng sang ra đường ĐT848. Vì tránh xe ô tô của ông T nên C bị lạc tay lái và té ngã xuống đường, biết xe ô tô này là của ông T và nghĩ rằng ông T ép xe mình nên C nhặt một viên gạch ống gần đó ném trúng hông bên phải xe ô tô. Trần Duy C tiếp tục nhặt và cầm theo một viên gạch ống và điều khiển xe mô tô đuổi theo xe ông T. Thấy C đuổi theo, ông T chạy xe dừng trước Trụ sở Công an xã T, tọa lạc số 09 KDC ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ. C tiếp tục dùng tay ném, đập viên gạch ống vào xe ô tô của ông T gây vỡ, trầy xước kính chắn gió phía sau xe, đèn ở cửa sau xe và một số bộ phận khác trên xe. Ông Trương Vĩnh T đến Công an xã T, thành phố S, tỉnh Đ trình báo.
Kết quả định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S, tỉnh Đ, kết luận đối với 01 xe ô tô Innova màu đồng, biển số 66A-042.07 đã qua sử dụng như sau:
- Phần che mưa bằng nhựa trên cửa trước bên phải bị vỡ rơi ra khỏi xe, kích thước 34cm x 08cm, giá trị thiệt hại: 246.667 đồng.
- Phần mép trên cửa trước bên phải và phần mui xe có vết trầy xước, móp, kích thước 05cm x 04cm, giá trị thiệt hại: 483.333 đồng.
- Phần che mưa bằng nhựa trên cửa sau bên phải bị vỡ rơi ra khỏi xe, kích thước 27,5cm x 09cm, giá trị thiệt hại: 246.667 đồng.
- Phần mui xe bằng kim loại trên cửa sau bên phải có vết trầy xước, móp, kích thước 6,5cm x01cm, giá trị thiệt hại: 616.667 đồng.
- Đèn ở cửa sau (dưới đuôi gió), gãy rời khỏi phần cố định, giá trị thiệt hại: 316.667 đồng.
- Phần đuôi gió có vết trầy xước không liên tục, kích thước 10,5cm x 0,7 cm, giá trị thiệt hại: 250.000 đồng.
- Kính sau xe vỡ, tạo lỗ hổng kích thước 89cm x 21,5 cm, kính hư hỏng hoàn toàn, giá trị thiệt hại: 3.035.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 5.195.001 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ một số đồ vật, tài liệu như sau:
- Một xe mô tô biển số 66S1-206.12, đã qua sử dụng của Trần Duy C, sau đó đã trả lại cho C nhận xong
- Một xe ô tô biển số 66A-042.07, đã qua sử dụng của ông Trương Vĩnh T, sau đó đã trả lại cho ông T nhận xong.
- Các mảnh kính vỡ (T1 tại vị trí số (2) khi khám nghiệm hiện trường), được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu số NS3-2014707, ghi ngày 13/6/2023, có chữ ký ghi họ tên Trương Vĩnh T.
- Một cục gạch ống (màu cam dài 18 cm, rộng 08cm đã qua sử dụng, thu tại vị trí số (3) khi khám nghiệm hiện trường), được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS1-2113053, ghi ngày 13/6/2023, có chữ ký và họ tên Trương Vĩnh T.
Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSTPSĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Trần Duy C về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Duy C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Duy C 03 năm cải tạo không giam giữ. Ngoài ra, còn đề nghị về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận về tội danh truy tố; xin được xem xét cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ ngày 13/06/2023, tại giao lộ đường H – đường ĐT848 và trước trụ sở Công an xã T, tọa lạc số 09 KDC ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ. Trần Duy C đã có hành vi dùng gạch ống đập, ném vào xe ô tô biển số 66A-042.07 của ông Trương Vĩnh T hậu quả làm cho xe của ông Trương Vĩnh T bị hư hỏng với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 5.195.001 đồng.
[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển hành vi của mình, lại có trình độ học vấn 12/12, nên hoàn toàn biết được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, nếu xâm phạm trái pháp luật sẽ bị xử lý, lẽ ra khi xảy ra sự việc va chạm với bị hại thì bị cáo phải biết xử sự một cách bình tĩnh, văn minh, nếu có đủ cơ sở cho rằng bị hại cố tình ép xe làm bị cáo té ngã thì bị cáo có quyền trình báo đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định, nhưng với bản tính nóng nảy, không biết kiềm chế bản thân, bị cáo đã chọn phương thức giải quyết thô bạo, dùng gạch ống ném, đập vào xe của bị hại gây hư hỏng. Do đó, hành vi của bị cáo là đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào .... cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng .... thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
......”
[4] Hành vi của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại một cách trái pháp luật nên cần phải bị xử phạt theo quy định, nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai, có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại xong, bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.
[6] Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, từ khi phạm tội đến nay đã chấp hành tốt pháp luật, nên áp dụng quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo là cũng đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo mà không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo xác định hiện bị cáo đang là chủ cơ sở kinh doanh củi trấu, có mức thu nhập cao và ổn định nên cần áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập theo quy định pháp luật.
[8] Phát biểu luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong.
[10] Về xử lý vật chứng: Đối với các mảnh kính vỡ được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3-2014707, ghi ngày 13/6/2024 có chữ ký và họ tên Trương Vĩnh T và 01 viên gạch ống được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS1-2113053 có chữ ký ghi rõ họ tên Trương Vĩnh T, xét thấy đây là những vật chứng trong vụ án nhưng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu hủy bỏ.
[11] Về án phí: Bị cáo Trần Duy C chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Duy C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Duy C 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố S, tỉnh Đ nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Trần Duy C cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Trần Duy C có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường A, thành phố S, tỉnh Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự
Phạt bổ sung bị cáo Trần Duy C số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.
- Về khấu trừ thu nhập: Căn cứ khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự
Khấu trừ 5% (năm phần trăm) thu nhập cá nhân hàng tháng của bị cáo Trần Duy C để sung quỹ nhà nước trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
- Tịch thu tiêu hủy:
- + các mảnh kính vỡ được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3-2014707, ghi ký và họ tên Trương Vĩnh T.
- + 01 viên gạch ống được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS1-2113053 có chữ ký ghi rõ họ tên Trương Vĩnh T.
(Hiện chi cục Thi hành án đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/12/2024)
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Trần Duy C chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hoàng Minh |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý làm hư hỏng tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên phạt 3 năm cải tạo không giam giữ
