|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày 26-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nhựt Thảo
Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Vũ – Kiểm sát viên.
Ngày 26 Tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Phước L, tên gọi khác: Tý K, sinh ngày 10-7-1987 tại tỉnh An Giang; đăng ký thường trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo C; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phước L1, sinh năm 1962, còn sống và bà Thái Thị Hằng N, sinh năm 1966, còn sống; vợ Bùi Thị T, sinh năm 1988, đã ly hôn; vợ Bùi Thị Tuyết L2, sinh năm 1986; có 01 con sinh năm 2007; tiền sự: Không; tiền án:
- Ngày 13-12-2007 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 27-02-2013 chấp hành án xong;
- Ngày 31-3-2017 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, xử phạt 05 năm 06 tháng tù (tội rất nghiêm trọng), về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 05-8-2021 chấp hành án xong;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-6-2024 cho đến nay, tại Nhà Tạm giữ – Công an huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Xuân T1, sinh ngày 09-01-1969 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T2 (vắng mặt)
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Minh Đ (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 01-6-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang phối hợp với Công an xã A kiểm tra nhà của bà Trần Xuân T1 ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang đang cho Trần Phước L thuê, phát hiện bắt quả tang Trần Phước L có hành vi cất giấu trong két nước xả bồn cầu vệ sinh 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong có 01 bọc nylon trong suốt một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng và 01 bọc lylon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng; kiểm tra trong sọt rác phát hiện 01 nỏ thủy tinh bị bể chứa tạp chất màu nâu nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong tang vật. L khai tang vật bị thu giữ là ma túy L mua của một người nam không rõ họ tên, địa chỉ tại khu vực cầu C, cất giấu nhằm mục đích để sử dụng.
Vật chứng liên quan đến vụ án:
- 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong có 01 bọc nylon trong suốt một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng và 01 bọc nylon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng.
- 01 nỏ thủy tinh bị bể chứa tạp chất màu nâu.
- 01 quẹt gas màu đen, 05 cây nỏ thủy tinh trong suốt, 01 cân điện tử MINI-335 có chữ “Ming Heng Mini scale”, 01 chai nhựa trong suốt có chữ “Sting” gắn ống hút màu đỏ trắng, 01 bọc nylon trong suốt một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, một đầu hàn kín.
- 01 xe mô tô biển số 67D1 – 234.92, nhãn hiệu SUZUKI, số loại HAYATE, màu sơn xám đen, số máy F4A5169557, số khung: RLSCF4EE0A0151679 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn L3.
- 01 xe mô tô biển số 72X2 – 0019, nhãn hiệu DAEHAN, màu sơn bạc đỏ, số máy VDMD 10010033665, số máy RMĐCG5MD81006065 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Huỳnh Minh X.
- 01 điện thoại di động OPPO 6Z 5G màu xanh có gắn sim số 0769302831
- 01 điện thoại di động OPPO A5 2020 màu trắng có gắn sim số 0876431268
- 01 điện thoại di động OPPO A3s màu đỏ có gắn sim số 0396283197
- Tiền Việt Nam 3.000.000 đồng
- 01 điện thoại di động OPPO A71k màu vàng thu giữ của Nguyễn Văn T2
Tại Bản kết luận giám định số 745/KL-KTHS ngày 07-6-2024 của Phòng K1 – Công an tỉnh A, kết luận:
- Mẫu M1 (bọc nylon trong suốt hàn kín) gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 2,2222 gam.
- Mẫu M2 (bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ) gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 10,0061 gam.
- Mẫu M3 (nỏ thủy tinh bị bể) gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1460 gam.
Tại cơ quan Điều tra:
Bị cáo Trần Phước L khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng và bị bắt quả tang phù hợp với nội dung vụ án. Đối với 05 cây nỏ thủy tinh trong suốt và 01 cân điện tử MINI-335 có chữ “Ming Heng Mini scale” không phải của L, khi thuê nhà của bà T1 đã có nhưng L không sử dụng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Xuân T1 trình bày cho L thuê nhà như nội dung vụ án. Bà không biết L cất giấu ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy tại nhà của bà.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn T2, người chứng kiến ông Nguyễn Minh Đ trình bày phù hợp nội dung vụ án.
Tại Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 07-11-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Trần Phước L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g,o khoản 2 Điều 249 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị báo Trần Phước L khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang như nội dung vụ án nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g,o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Phước L từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 01-6-2024.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và bao gói ma túy đã thu giữ; 01 nỏ thủy tinh bị bể; 01 quẹt gas màu đen; 05 cây nỏ thủy tinh trong suốt; 01 cân điện tử MINI-335 có chữ “Ming Heng Mini scale”; 01 chai nhựa trong suốt có chữ “Sting” gắn ống hút màu đỏ trắng; 01 bọc nylon trong suốt một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, một đầu hàn kín.
Trả lại bị cáo Trần Phước L 01 xe mô tô biển số 67D1 – 234.92, nhãn hiệu SUZUKI, số loại HAYATE, màu sơn xám đen, số máy F4A5169557, số khung: RLSCF4EE0A0151679 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn L3; 01 xe mô tô biển số 72X2 – 0019, nhãn hiệu DAEHAN, màu sơn bạc đỏ, số máy VDMD 10010033665, số máy RMĐCG5MD81006065 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Huỳnh Minh X; 01 điện thoại di động OPPO 6Z 5G màu xanh; 01 điện thoại di động OPPO A5 2020 màu trắng; 01 điện thoại di động OPPO A3s màu đỏ; Tiền Việt Nam 3.000.000 đồng.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn T2 01 điện thoại di động OPPO A71k màu vàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà T1; người làm chứng ông T2; người chứng kiến ông Đ vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt nguòi phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà T1; người làm chứng, người chứng kiến về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 01-6-2024, tại nhà của bà Trần Xuân T1 ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang do bị cáo thuê, bị cáo có hành vi cất giấu trong két nước xả bồn cầu vệ sinh 12,3743 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Trước đó bị cáo L từng bị xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” mà chưa được xóa án tích.
Hành vi nêu trên của bị cáo L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g,o khoản 2 Điều 249 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm (tội phạm rất nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Như chúng ta đều biết ma túy là hiểm họa của loài người, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh hiểm nghèo, mầm mống nảy sinh tội phạm rất cao, người bị nghiện ma túy không còn chí thú lao động sản xuất, ngày càng sa sút về kinh tế và thể chất; Nhân dân địa phương lo sợ cho tương lai con em họ khi biết rằng xung quanh có những người như bị cáo đang gieo rắc cái chết trắng, họ rất bất bình trước hành vi của bị cáo. Do đó, pháp luật Nhà nước ta kiên quyết đấu tranh loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội bằng cách xử lý thật nghiêm đối với mọi hành vi vi phạm. Bị cáo L là người thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo có hiểu biết nhất định về pháp luật, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật. Trong vụ án này hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng.
- Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; bị cáo chưa có tiền sự. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo L chỉ được áp dụng 1 tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm s khoản 1 và 1 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm rất nghiêm trọng. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét thấy, bị cáo làm thuê, thu nhập không ổn định; nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về vật chứng liên quan đến vụ án:
- Đối với toàn bộ số ma túy và bao gói ma túy đã thu giữ đây là loại hàng hóa nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 nỏ thủy tinh bị bể; 01 quẹt gas màu đen; 05 cây nỏ thủy tinh trong suốt; 01 cân điện tử MINI-335 có chữ “Ming Heng Mini scale”; 01 chai nhựa trong suốt có chữ “Sting” gắn ống hút màu đỏ trắng là dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 67D1 – 234.92, nhãn hiệu SUZUKI, số loại HAYATE, màu sơn xám đen, số máy F4A5169557, số khung: RLSCF4EE0A0151679 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn L3; 01 xe mô tô biển số 72X2 – 0019, nhãn hiệu DAEHAN, màu sơn bạc đỏ, số máy VDMD 10010033665, số máy RMĐCG5MD81006065 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Huỳnh Minh X; 01 điện thoại di động OPPO 6Z 5G màu xanh; 01 điện thoại di động OPPO A5 2020 màu trắng; 01 điện thoại di động OPPO A3s màu đỏ; Tiền Việt Nam 3.000.000 đồng là tài sản của bị cáo L, không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho bị cáo L.
- Đối với 01 điện thoại di động OPPO A71k màu vàng là tài sản của ông Nguyễn Văn T2, không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho ông T2.
[7] Về các vấn đề khác:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Phước L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào: Điểm g,o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Phước L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 01-6-2024.
Căn cứ vào: Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và bao gói ma túy đã thu giữ; 01 nỏ thủy tinh bị bể; 01 quẹt gas màu đen; 05 cây nỏ thủy tinh trong suốt; 01 cân điện tử MINI-335 có chữ “Ming Heng Mini scale”; 01 chai nhựa trong suốt có chữ “Sting” gắn ống hút màu đỏ trắng.
- Trả lại bị cáo Trần Phước L 01 xe mô tô biển số 67D1 – 234.92, nhãn hiệu SUZUKI, số loại HAYATE, màu sơn xám đen, số máy F4A5169557, số khung: RLSCF4EE0A0151679 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn L3; 01 xe mô tô biển số 72X2 – 0019, nhãn hiệu DAEHAN, màu sơn bạc đỏ, số máy VDMD 10010033665, số máy RMĐCG5MD81006065 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Huỳnh Minh X; 01 điện thoại di động OPPO 6Z 5G màu xanh; 01 điện thoại di động OPPO A5 2020 màu trắng; 01 điện thoại di động OPPO A3s màu đỏ; Tiền Việt Nam 3.000.000đ (ba triệu đồng).
- Trả lại ông Nguyễn Văn T2 01 điện thoại di động OPPO A71k màu vàng.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 63/QĐ-VKS ngày 07-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Căn cứ Điều 136 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trần Phước L phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào: Điều 331 và Điều 333 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26-11-2024).
Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Phước Long phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g,o khoản 2 Điều 249
