|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TH Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày: 23/4/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Mai Đình A |
| Thẩm phán: | Ông Phạm Văn Long |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Mai Hoa |
| Ông Đầu Khắc Dinh | |
| Ông Lê Hữu Tới |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh TH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TH tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Dũng, chức vụ: Kiểm sát viên; Ông Lê Văn Bắc, chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22, 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 01/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 15/02/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Thị B, sinh năm: 1961, tại Phố Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố TH, tỉnh TH; Nơi thường trú: Phố Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố TH, tỉnh TH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/10; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình Nghĩa (đã chết) và bà Trịnh Thị Hiền (đã chết); chồng Đỗ Viết Ban (đã chết), có 04 người con lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Bản án số 16/2011/HSST ngày 25/5/2011, TAND huyện Đông Sơn, tỉnh TH xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Bản án số 277/2012/HSST ngày 19/11/2012, TAND thành phố TH xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 16/2011/HSST, của TAND huyện Đông Sơn, tỉnh TH, buộc Hoàng Thị B phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 03/9/2017. (Đều đã được xóa án tích).
- Ngày 10/01/2020, Công an TP TH xử phạt hành chính số tiền 2.500.000₫ về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác. (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị bắt giữ khẩn cấp ngày 25/8/2022 đến ngày 31/8/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung, tỉnh TH.
* Người bào chữa cho bị cáo B:
- Luật sư Nguyễn Đình Giá – Văn phòng luật sư Đình Giá và cộng sự, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.
- Luật sư: Phạm Văn Mạnh – Công ty luật Năm Châu, thuộc Đoàn luật sư TH.
Địa chỉ: S 15-14 Toà nhà The One Gamuda, phố Trần Phú, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Số 76 Triệu Quốc Đạt, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hoá.
2. Họ và tên: Vi Văn E, Sinh năm: 1985; tại: Huyện Quan Sơn, tỉnh TH; Nơi thường trú: Bản Mìn, xã Mường Mìn, H. Quan Sơn, tỉnh TH; Nơi ở hiện nay: Bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, H. Quan Sơn, tỉnh TH; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vi Đại Nam (Đã chết) và bà: Phạm Thị Nom; vợ: Lữ Thị Nghi, có hai con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền sự: Không
Tiền án: 01. Bản án số 105/2021/HSST, ngày 25/01/2021 TAND thành phố TH xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 21/01/2022. (chưa được xóa án tích).
Nhân thân: Năm 2012, bị TAND tỉnh TH xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/8/2022, đến ngày 31/8/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh TH.
*Người bào chữa cho bị cáo E: Luật Sư Nguyễn Gia Thìn – Văn phòng luật sư Bắc Thành, thuộc Đoàn luật sư Thanh Hoá.
Địa chỉ: Số 78 đường Lương Thế Long, phường Ba Đình, thành phố Thanh Hoá.
3. Họ và tên: Đỗ Viết G, Sinh năm: 1991; tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh TH; Nơi thường trú và nơi ở: Bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh TH; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Viết Tuấn (Đã chết) con bà Lê Thị Bình; vợ: Lê Thị Hồng, có ba con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2013, TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh TH xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 17 tháng 24 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”. (Đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/8/2022, đến ngày 31/8/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh TH.
* Người bào chữa cho bị cáo G: Luật Sư Nguyễn Thị Học – Công ty TNHH Minh Học, thuộc Đoàn luật sư Thanh Hoá.
Địa chỉ: Số 14 Đông Phú, xã Hoàng Lộc, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá
4. Họ và tên: Lê Hữu V, sinh năm 1974, tại thành phố TH, tỉnh TH; Nơi thường trú: Phố Tân Tự, P. Đông Tân, TP TH, tỉnh TH; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Sánh, con bà Lê Thị Chiến; vợ Nguyễn Thị Thủy, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 26/6/2015, TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử 12 tháng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Vi phạm quy định về điều khiến phương tiện giao thông đường bộ”. (Đã được xóa án tích);
- Ngày 11/4/2019, Công an phường Đông Tân, TP.TH, tỉnh TH, xử phạt VPHC về hành vi “Đánh bạc” (Đã chấp hành xong).
Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/8/2022, đến ngày 31/8/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung, tỉnh TH.
* Người bào chữa cho bị cáo V: Luật sư: Mai Văn Bắc, Văn phòng luật sư Bắc Thành, thuộc Đoàn luật sư Thanh Hoá.
Địa chỉ: Số 78 đường Lương Thế Long, phường Ba Đình, thành phố Thanh Hoá.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Thủy – sinh năm 1973 (có mặt)
- Chị Lê Thị Hồng – Sinh năm 1991 (có mặt)
- Chị Lữ Thị Nghi – sinh năm 1988 (có mặt)
- Anh Lương Văn Ngay – sinh năm 1978 (có mặt)
- Chị Vi Thị Diệp – sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Phố Tân Tự, Phường Đông Tân, TP Thanh Hoá
Địa chỉ: Bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, Thanh Hoá.
Địa chỉ: Bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, Thanh Hoá.
Địa chỉ: Bản Vạn Mìn, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Địa chỉ: KM 61, xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá
* Người làm chứng:
- Anh Lưu Anh Tuấn – sinh năm 1992 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Trang – sinh năm 1991 (có mặt)
- Chị Lê Thị Chiến – sinh năm 1963 (có mặt)
- Anh Đỗ Viết Ngọc – sinh năm 1988 (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị Đức (vắng mặt)
- Chị Bùi Thị Xuân – sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Chị Tống Thị B – sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: Bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, Thanh Hoá.
Địa chỉ: Phố Tân Tự, Phường Đông Tân, TP Thanh Hoá
Địa chỉ: Phố Tân Tự, Phường Đông Tân, TP Thanh Hoá
Địa chỉ: Bản Na Nghịu, xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Địa chỉ: Tiểu khu 4, Thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung - Thanh Hoá
Địa chỉ: Phố Bắc Sơn, thị trấn Nho Quan, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung - Thanh Hoá
Địa chỉ: Số 33 Lê Lai, Phường Đông Sơn, TP Thanh Hoá.
Hiện đang bị chấp hành án tại Trại giam Ninh Khánh, tỉnh Ninh Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hữu V và Hoàng Thị B, thường hay qua lại với nhau, có mối quan hệ gần gũi thân cận vì V có mẹ đẻ là bà Lê Thị Chiến làm giúp việc cho gia đình B, V gọi B là “Dì B”. Khoảng đầu tháng 8 năm 2022, khi V đến nhà B chơi, trong lúc nói chuyện B đặt vấn đề nhờ V mua ma túy cho B, B nói với V “Cháu có lấy được ở đâu cho dì ít hàng trắng (tức là Heroine) không” nhưng chưa nói rõ số lượng là bao nhiêu. V trả lời “Để cháu gọi điện hỏi xem thế nào rồi sẽ trả lời dì” B đồng ý, sau đó V tiếp tục đi làm. Đến ngày 15/8/2022, Lê Hữu V dùng số điện thoại 0978.508.xxx gọi điện vào số 0372061542 của Vi Văn E (là người thân quen với Hoàng Thị Thái là chị gái B; E cũng biết B và các em của B), đặt vấn đề mua ma túy (Heroine) cho B. V hỏi E “Em có hàng (Heroine) không để cho anh 02 (Hai) bánh”. E nói “Dạo này em không làm nữa”. Thấy E trả lời như vậy V nói “Anh lấy hàng (tức 02 bánh Heroine) cho dì B”, nghe V nói lấy hàng cho dì B, E biết đó là dì Hoàng Thị B, em gái của Hoàng Thị Thái (mẹ kết nghĩa của E) nên E nói để E bảo với Đỗ Viết G (là em xã hội của E) lấy cho. V đồng ý và nói “lấy hàng chuẩn (tức là hàng chất lượng tốt) cho dì B nhé”, đồng thời hỏi E, giá 01 miếng (tức là 01 bánh Heroine) bây giờ là bao nhiêu, E nói “hàng chuẩn thì giá một bánh là 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng). Anh yên tâm lấy cho dì B thì em bảo lãnh về mặt chất lượng, nếu kém chất lượng em chịu trách nhiệm”, V đồng ý.
Sau khi thỏa A và thống nhất được giá Heroine với E, khoảng 13 giờ ngày 15/8/2022, Lê Hữu V gọi điện cho B, qua điện thoại V nói B chuyển tiên cho V để đi mua ma túy, B đồng ý, đồng thời bảo V đến nhà ở của Đỗ Viết Vũ (con trai B), hiện B đang ở đó. V một mình đi xe ôtô đến nhà Vũ để gặp B, khi đến nơi V gặp Nguyễn Thị Trang (con dâu của B) và B đang ở nhà. B và V đi vào trong phòng ngủ của vợ chồng Vũ và Trang, dưới tầng 1 đối diện với phòng khách. Tại đây V và B trao đổi công việc riêng với nhau có Trang nhìn thấy nhưng không biết trao đổi việc gì. V nói với B đã liên hệ với E mua 02 bánh Heroine, giá 01 bánh là 220.000.000đ (Hai trăm hai mươi triệu đồng), tổng 02 bánh là 440.000.000đ (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng), B đồng ý, rồi lấy ra số tiền 440.000.000 đồng đưa cho V. Nhận tiền của B, V kiểm đếm lại thấy đủ, V gói lại bỏ vào trong túi nilon và đem ra cất vào trong xe, rồi lái xe đi làm bình thường.
Đến khoảng hơn 08 giờ sáng ngày 16 hoặc 17/8/2022, V không nhớ chính xác ngày, V dùng số điện thoại 0978.508.xxx gọi cho Vi Văn E hỏi E có xuống thành phố TH không hay đang trên Quan Sơn. E trả lời đang đi công việc ở thành phố TH. V nói muốn gặp E để đưa tiền mua 02 bánh Heroine, E trả lời hiện đang đi công việc riêng đến trưa thì mới về xưởng gỗ nhà cậu Công (tức Công Ngộ) là em trai Hoàng Thị B, ở phố Tân Cộng, phường Đông Tân, thành phố TH. Đến khoảng 11 giờ 30 cùng ngày V gọi điện lại cho E hỏi về chưa, E nói đang ở xưởng gỗ nhà cậu Công rồi, V hẹn E cứ ở đó bây giờ V lại, E đồng ý. Sau đó V lấy số tiền 190.000.000₫ (Một trăm chín mươi triệu đồng) trong tổng số tiền 440.000.000đ (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) B đã đưa cho V trước đó tại nhà Vũ gồm có các mệnh giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) và 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) nhưng không nhớ rõ số tờ của từng mệnh giá là bao nhiêu tờ, bỏ vào túi nilon màu đen, rồi mang đến xưởng gỗ nhà Công đưa cho E. Đến nơi V thấy E đang ngồi một mình trong phòng bảo vệ của xưởng gỗ, V vào trong gặp, tại đây V đưa tiền mua 02 bánh Heroine cho E. Khi đưa tiền cho E, V nói với E ở đây mới có 190.000.000 đồng, còn thiếu 170.000.000 đồng, V hẹn khi nào nhận ma túy sẽ đưa đủ, E đồng ý, đồng thời bảo V để tiền ở ghế cạnh đầu giường trong phòng bảo vệ cho E, sau đó V đi về nhà.
Vi Văn E khai nhận: Sau khi thỏa A thống nhất với V, E điện thoại cho một người đàn ông tên là Đua, ở bản Khằm 1, xã Trung Lý, huyện Mường Lát, tỉnh TH (là người quen của E, trước đây Đua đi học cấp ba, ở trọ gần nhà E nên quen biết nhau), hỏi mua 02 (Hai) bánh Heroine. Đua báo giá 01 (một) bánh Heroine là 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng), E đồng ý. Sau đó E điện thoại báo lại cho Đỗ Viết G biết Đua báo giá 01 (một) bánh Heroine là 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng) để G chủ động trực tiếp liên hệ giao dịch mua bán ma túy với Đua nhưng Đỗ Viết G khai nhận không biết Đua và không liên lạc với Đua để đặt mua 02 (Hai) bánh Heroine như E khai báo và khai nhận vào khoảng 14 giờ ngày 19/8/2022, Vi Văn E gọi điện thoại cho G bảo G hôm nay đi, tức là mang 02 bánh Heroine giao cho V, G đồng ý.
Đến 19 giờ cùng ngày E tiếp tục gọi cho G bảo hôm nay chưa đi được vì an ninh chưa an toàn, việc giao dịch (giao 02 bánh Heroine cho V) sẽ hoãn lại.
Khoảng 13 giờ ngày 19/8/2022, G gọi cho V nói đã có hàng (tức ma túy) lên mà lấy, V trả lời để tối V lên. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/8/2022, Lê Hữu V một mình đi xe máy BKS 36B8 - 20607 lên huyện Quan Sơn gặp G để nhận ma túy. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đi đến Km30 V gọi điện cho G, hỏi G đang ở đâu để nhận ma túy, G trả lời vì an ninh không đảm bảo nên “hàng không xuống” (tức là không có ma túy), nghe G nói thế V quay xe đi về nhà. Khi V đi về đến Km số 0, thuộc địa phận huyện Bá Thước, tỉnh TH thì V nhận được điện thoại của E, qua điện thoại E hỏi V “G gọi cho anh chưa”, V trả lời “rồi, nhưng G nói vì an ninh không đảm bảo nên hàng không về”. E bảo V cứ đợi ở ngã ba Đồng Tâm, huyện Bá Thước để E gọi cho G xem thế nào. V đồng ý, rồi đi xe vào quán nước tại ngã ba Đồng Tâm chờ tin của E. Trong lúc đang chờ tin của E thì V nhận được điện thoại của Hoàng Thị B, gọi cho V bằng số điện thoại có ba số cuối là 116, V lưu trong danh bạ là “B Ban”. Qua điện thoại B hỏi V đang ở đâu V trả lời đang ở ngã ba Đồng Tâm, huyện Bá Thước, đồng thời V nói cho B biết không lấy được 02 (hai) bánh Heroine, lý do đầu trên (tức Đỗ Viết G) thông báo do an ninh chưa đảm bảo nên chưa giao ma túy có gì sẽ hẹn sang ngày mai. Nghe V nói vậy B nói thế là lỡ việc của dì rồi (tức là B đưa tiền cho V lên huyện Quan Sơn mua 02 bánh Heroine nhưng chưa mua được làm lỡ việc của B). Nói chuyện với B xong V gọi điện lại cho E hỏi tình hình thế nào thì E nói V cứ về đi, sau đó V đi về thành phố TH.
Đến khoảng 09 giờ ngày 20/8/2022, Đỗ Viết G đang ở nhà thì E gọi điện bảo G đến nhà E có việc. Khi G đến nhà E, E bảo G gọi điện cho V lên lấy hàng (ma túy). Đồng thời bảo G lấy luôn số tiền V mua 02 (hai) bánh Heroine còn thiếu là 170.000.000 đồng vì V đã đưa trước cho E là 190.000.000 đồng, G đồng ý rồi đi về nhà. Khoảng 14 giờ cùng ngày G gọi điện cho V và bảo V khoảng 20 giờ hôm nay (tức ngày 20/8/2022), đến Km39 để lấy hàng (ma túy) và G dặn cầm theo số tiền 170.000.000 đồng, V đồng ý và nói khi nào lên sẽ gọi lại cho G sau.
Khoảng 16 giờ G đến nhà E, tại đây G nói với E đã gọi điện cho V. Lúc này E lấy 02 (hai) bánh Heroine đưa cho G, đồng thời bảo G cầm lấy cất đi lúc nào V lên thì giao cho V. G nhận 02 (hai) bánh Heroine từ E đưa, rồi mang về nhà cất giấu ở gầm cầu thang để khi nào V gọi thì đem đi giao cho V (khi G nhận ma túy từ E, mang về cất giấu tại nhà G thì không có ai biết, tham gia).
Chiều ngày 20/8/2022 chị Nguyễn Thị Thủy, trú tại phố Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố TH (là vợ của Lê Hữu V) đang chuẩn bị đi chợ bán trái cây thì nghe thấy B gọi điện nói chuyện với V. Sau khi nói chuyện với B, V hỏi Thủy đăng ký xe máy 36B8- 20607 đang để ở đâu, Thủy trả lời con gái đang cầm. Chị Thủy hỏi lại V anh đi đâu mà lấy đăng ký xe, V trả lời đi xách hàng cho dì B (Thủy hiểu là V đi lấy ma túy cho B). Nghe V nói vậy, Thủy quyết liệt ngăn cản không cho V đi, Thủy nói với V “Anh làm thế là vi phạm pháp luật”. Nghe vợ nói như vậy V trả lời “Không đi nữa thì thôi”. Vì tin lời V nói là không
đi nữa, nên Thủy đã chở trái cây ra chợ để bán. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày V cầm theo số tiền 170.000.000 đồng bỏ vào cốp xe VISON biển kiểm soát 36B8 - 20607, rồi một mình đi lên điểm hẹn tại Km39 thuộc thị trấn Quan Sơn, huyện Quan Sơn, tỉnh TH gặp G để nhận ma túy. Khi V đi đến Km22 hoặc 23 (do trời tối V không nhìn rõ) V gọi điện báo cho G biết sắp đến nơi (Km39). G bảo V cứ chạy tiếp và hẹn gặp ở Km39 chỗ đoạn đường sạt lở. Sau đó G lấy 02 (hai) bánh Heroine đã cất giấu trước đó tại nhà rồi một mình đi xe máy đến Km39 đợi V. G để 02 bánh Heroine ở chân cột của hàng rào chắn phía ta ly âm. Khi V đến điểm hẹn (Km39) thấy G đã đứng đợi tại đó. V đi lại chỗ G, lấy số tiền 170.000.000 đồng bỏ trong túi nilon màu đen từ trong cốp xe đưa cho G (V có xin lại G 3.000.000 đồng). Nhận tiền của V xong, G chỉ chỗ đang cất giấu ma túy cho V. Theo hướng dẫn của G, V đi đến cột của hàng rào chắn phía ta ly âm gần cột mốc Km39, thì nhìn thấy dưới chân cột của hàng rào chắn phía ta ly âm có một gói nilon màu đen, V cầm lên xác định bên trong là 02 (hai) bánh Heroine, nên V đã cầm gói ma túy đi lại xe bỏ vào trong túi nilon màu đỏ, sau đó bỏ vào trong túi đựng áo mưa màu đen và treo ở móc treo đồ xe máy 36B8-20607 rồi đi về thành phố TH, còn G đi về nhà hay đi đâu V không biết.
Khi V đi về đến Km 96+500 QL15A, thuộc khu phố Tỉu, thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh TH thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra Công an phát hiện và thu giữ 02 bánh hình chữ nhật đựng trong túi nilon màu đỏ, cho vào túi đựng áo mưa màu đen treo trên móc treo đồ xe máy 36B8-20607. Lê Hữu V khai nhận đó là 02 (hai) bánh Heroine, V mua của E và G để bán cho Hoàng Thị B. Tổ công tác đã tuyên bố bắt quả tang Lê Hữu V và thu giữ toàn bộ số vật chứng.
Quá trình điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vi Văn E, thu giữ các viên nén màu hồng và màu xanh là hồng phiến và 01 gói nilon đựng chất tinh thể mà trắng là ma túy đá. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Viết G, thu giữ 02 (hai) bánh Heroine và 10 (mười) túi Hồng phiến. Triệu tập làm việc với Vi Văn E, Đỗ Viết G, Hoàng Thị B; tại Cơ quan điều tra Vi Văn E, Đỗ Viết G đã xin đầu thú và tự nguyện khai báo về hành vi mua bán ma túy. Đỗ Viết G thừa nhận đã cùng với Vi Văn E, Lê Hữu V thực hiện hành vi mua bán trái phép 02 (hai) bánh Heroine, ngoài ra G còn cất giấu 02 (hai) bánh Heroine và 10 (mười) túi Hồng phiến ở nhà của mình. Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Thị B. Quá trình điều tra Hoàng Thị B không thừa nhận hành vi của mình, quanh co chối tội, tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ khẳng định, Hoàng Thị B đã có hành vi mua bán 02 bánh Heroine.
Về nguồn gốc 02 (hai) bánh Heroine và 10 (mười) túi Hồng phiến thu giữ khi khám xét nhà Đỗ Viết G, quá trình điều tra ban đầu G khai nhận chiều ngày 18/8/2022 Vi Văn E gọi điện thoại cho G đến khu vực gần xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn, tỉnh TH có việc. Tại đây E đã đưa cho G 02 bánh Heroine và 10 túi hồng phiến được bọc trong túi nilon màu đen và bảo G mang về nhà cất giấu khi nào E có khách mua sẽ bảo G mang đi giao cho khách, nhận ma túy từ E đưa G
mang về nhà cất giấu. Quá trình điều tra về sau G thay đổi lời khai và khai báo về nguồn gốc 02 bánh Heroine và 10 túi hồng phiến là G mua của người đàn ông dân tộc Mông, tên là Súa, khoảng 35 tuổi (G không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể, G khai trước đây Súa làm sửa xe tại nhà G) với giá 100.000.000₫/01 bánh Heroine; ma túy hồng phiến mua với giá 2.000.000đ/01 túi sau đó mang về nhà cất giấu, để bán. Giai đoạn điều tra sau này G tiếp tục thay đổi lời khai và khai báo số ma túy trên G mua để sử dụng cho bản thân.
Đối với Vi Văn E khai báo về hành vi mua bán ma túy của mình, đồng thời khai nhận các viên nén màu hồng và màu xanh mà cơ quan Công an khám xét thu giữ tại nhà E là ma túy hồng phiến, E mua của một người đàn ông không quen biết tại xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn, tỉnh TH với giá là 3.000.000 đồng vào ngày 13/8/2022 đem về nhà cất giấu để sử dụng cho bản thân. Còn gói nilon đựng chất tinh thể mà trắng là ma túy đá, E khai không phải là ma túy của E, không biết là của ai, tại sao lại có ở đó. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu điều tra đã thu thập xác định gia đình E sinh sống cùng nhau có vợ E và mẹ đẻ của E, ngoài ra không có ai khác. Vợ E và mẹ E đều không nghiện ma túy, ngoài vợ E và mẹ E thì không có người lạ ra vào nhà. Bản thân E là người nghiện ma túy đã nhiều lần bị kết án về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo báo cáo của chính quyền địa phương thể hiện E nghiện ma túy loại ma túy sử dụng là hồng phiến và ma túy đá (Methamphetamine) phù hợp với loại ma túy đã thu giữ khi khám xét nơi ở của Vi Văn E. Do đó có đủ căn cứ xác định gói nilon đựng ma túy đá (Methamphetamine) nêu trên là của E cất giấu để sử dụng, nên buộc Vi Văn E phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với tổng khối lượng ma túy đã thu giữ tại nhà E.
* Vật chứng và tài sản thu giữ:
- Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang: 02 (hai) bánh chất bột màu trắng, hình chữ nhật, kích thước khoảng (16x10x2) cm.
- - 01 (một) xe máy Honda Vision, màu đen - đỏ gắn BKS 36B8-206.07.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung gắn hai sim, sim 1: 0978508303, sim 2: 0353246282, thu giữ của Lê Hữu V (BL 01-02).
- Khám xét nơi ở của Lê Hữu V thu giữ:
- - 03 (ba) điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động MASSTEL màu đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh, đều là dạng máy bàn phím;
- - 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu KIA, màu bạc, biển kiểm soát 36A - 20177.
- - 04 (bốn) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP127227; DD075884; DD075883; BC031436, mang tên Hoàng Thị B;
- - 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP127219, mang tên Lê Thành Long và Nguyễn Thị Mậu;
- - 01 (một) hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 150/2022/HĐCN;
- - Tiền Việt Nam 47.500.000VNĐ (Bốn bảy triệu, năm trăm nghìn đồng). (BL 54-55).
- Khám xét nơi ở của Đỗ Viết G tại bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh TH thu giữ:
- - 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật kích thước khoảng (14x10x3)cm bên ngoài đều được bọc một lớp nilon màu trắng, tiếp đến là nhiều lớp nilon màu xanh, vàng, trong cùng là chất rắn màu trắng;
- - 10 (mười) túi nilon trong đó có 08 (tám) túi màu xanh và 02 (hai) túi màu hồng, bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh. (BL 68-69).
- - 04 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh; 01 điện thoại OPPO màu vàng; 01 điện thoại IPHONE màu xanh, 01 điện thoại IPHONE màu xám.
- - Tiền Việt Nam 167.000.000VNĐ (Một trăm sáu mươi bảy triệu đồng), vợ G là Lê Thị Hồng tự nguyện giao nộp. (BL 68-69).
- Khám xét nơi ở của Vi Văn E tại bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh TH thu giữ:
- - 01 (một) túi nilon màu đen và 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh (thu trên đệm giường ngủ hai vợ chồng).
- - 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (thu giữ bên cạnh gầm giường ngủ của vợ chồng Vi Văn E);
- - 02 (hai) điện thoại di động NOKIA màu đen, loại máy bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng;
- - 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu MAZDA, số loại BT50, màu trắng, gắn biển kiểm soát 36C-28471, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
- - 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 069509, tên chủ xe Lương Văn Ngay;
- - Tiền Việt Nam 3.216.500.000đ (Ba tỷ hai trăm mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). (BL 73-74)
- Khám xét nơi ở của Hoàng Thị B tại Phố Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố TH và cơ sở kinh doanh ăn uống của Hoàng Thị B ở Phố Tân Cộng, phường Đông Tân, do con trai B là Đỗ Viết Vũ quản lý, thu giữ:
- - 01 (một) túi nilon màu trắng đựng các hạt tinh thể màu trắng;
- - 06 (sáu) gói nilon trong đó có 01gói màu trắng và 05 gói màu đen đều đựng chất bột màu trắng, trong bình cắm hoa tại bàn thờ ông Thần Tài.
- - 01 (một) túi nilon bên trong có chất tinh thể màu trắng;
- - 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có 07 viên màu hồng và 01 viên màu xanh;
- - 01 (một) khẩu súng hơi, bắn đạn chì.
- Kết quả trưng cầu giám định chất ma túy:
- + 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi bánh được bọc lớp nilon màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, lớp giấy dầu màu vàng, trong cùng là lớp nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng khối, gửi giám định có tổng khối lượng 696,77 gam là ma túy, loại Heroine (thu giữ khi bắt quả tang Lê Hữu V).
- + 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài từng bánh được bọc lớp nilon màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, màu vàng, trong cùng là lớp nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng khối, gửi giám định có tổng khối lượng 697,68 gam là ma túy, loại Heroine; 01 (một) túi nilon màu đen đựng 10 (mười) túi bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh, gửi giám định có tổng khối lượng 183,08 gam là ma túy, loại Methamphetamine (thu giữ khám xét nơi ở Đỗ Viết G).
- + 01 (một) túi nilon màu đen và 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh, gửi giám định có tổng khối lượng 31,52 gam là ma túy, loại Methamphetamine; 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, gửi giám định có khối lượng 22,11 gam là ma túy, loại Methamphetamine (thu giữ khám xét nơi ở Vi Văn E). (BL 93-94).
- + Đối với tổng khối lượng ma túy đã thu giữ qua khám xét cơ sở kinh doanh ăn uống của Hoàng Thị B ở phố Tân Cộng, phường Đông Tân, do con trai B là Đỗ Viết Vũ quản lý, là 2,44 gam Methamphetamine; 1,60 gam Heroine; 1,22 gam Ketamine. Quá trình điều tra Đỗ Viết Vũ đã đầu thú khai báo số ma túy trên là do Vũ nhặt được, cất giấu trong nhà để sử dụng cho bản thân.
- Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
- Đối với đồ vật, tài sản thu của Lê Hữu V
- - 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đen - đỏ, BKS 36B8-206.07. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe trên đứng tên đăng ký là Lê Thị Thúy Hằng, sinh ngày 04/3/2002, nơi thường trú phố Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố TH (con gái Lê Hữu V), xe không có trong danh sách quản lý xe vật chứng. Tiến hành ghi lời khai, Hằng khai nhận chiếc xe trên là của Hằng mua năm 2021 làm phương tiện đi lại. Đầu tháng 8/2022, Hằng ra TP. Hà Nội học tập, sinh sống nên để xe máy cùng chìa khóa ở nhà. Việc V lấy xe máy của Hằng để làm phương tiện thực hiện hành vi mua bán ma túy ngày 20/8/2022, Hằng hoàn toàn không biết và không liên quan. Ngày 12/12/2022, Lê Thị Thúy Hằng có đơn xin lại tài sản. Do đó Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Thúy Hằng quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật.
- - 04 (bốn) điện thoại di động thu giữ của Lê Hữu V. V khai nhận chỉ dùng điện thoại di động Samsung gắn 02 sim 0978508303; 0353246282 để liên hệ mua bán trái phép chất ma túy. Còn 03 chiếc điện thoại thu giữ khi khám xét, không liên quan đến hành vi phạm tội của V.
- - 01 (một) xe ôtô biển số 36A-201.77. Quá trình điều tra xác định là xe của bị cáo Lê Hữu V, đăng ký chính chủ là tài sản chung của vợ chồng V và chị Nguyễn Thị Thủy, nguồn tiền để mua xe là do vợ chồng tích góp mà có. Vợ chồng V mua xe với mục đích để V chạy dịch vụ Taxi gia đình, đồng thời làm phương tiện đi lại của gia đình, ngoài ra không có mục đích khác. Ngày 15/8/2022, V đã dùng xe ôtô trên đi đến nhà Đỗ Viết Vũ, gặp B lấy số tiền 440.000.000₫ (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) để đi mua ma túy cho B. Kết quả tra cứu phương tiện giao thông, xác định đứng tên đăng ký chủ phương tiện là Lê Hữu V, xe không có trong danh sách dữ liệu xe vật chứng của vụ án.
- - Số tiền 47.500.000đ (Bốn bảy triệu năm trăm nghìn đồng) đã thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nhà ở của Lê Hữu V. V khai nhận sau khi nhận số tiền 440.000.000₫ (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng), từ Hoàng Thị B tại nhà ở của vợ chồng Đỗ Viết Vũ, V đã đưa cho E 190.000.000 đồng và G 170.000.000 đồng để mua 02 bánh Heroine; đưa cho Lê Viết Thắng là bạn của E số tiền 30.000.000 đồng, còn lại 50.000.000 đồng V lấy ra 2.500.000 đồng để đổ xăng và chi tiêu cá nhân còn lại số tiền 47.500.000 đồng V cất giấu tại nhà, khi khám xét Cơ quan Công an đã thu giữ.
- Đối với đồ vật, tài sản thu của Vi Văn E:
- - 02 (Hai) điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA màu đen. E khai nhận trong số 02 điện thoại di động trên E khai chỉ dùng điện thoại di động NOKIA màu đen gắn sim số 0372061542, liên hệ mua bán ma túy. Chiếc điện thoại còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội của E.
- - Xe ôtô nhãn hiệu MAZDA, BT50, màu trắng, biển kiểm soát 36C-28471; cùng đăng ký xe số 069509, mang tên Lương Văn Ngay. E khai nhận đó là xe E mượn của anh rể Lương Văn Ngay, làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác minh kết quả cho thấy chiếc xe nói trên là vật chứng trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” trước đây Vi Văn Tạo (anh trai của Vi Thị Diệp, Vi Văn E, chính là anh vợ của Lương Văn Ngay) đã sử dụng chiếc xe ôtô có đặc điểm nêu trên làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, cụ thể là Lương Văn Tạo đã cất giấu 03 bánh Heroine trên xe ôtô, rồi lái xe vận chuyển từ huyện Quan Sơn đến thành phố Sầm Sơn, để bán cho khách và đã bị bắt, tuyên phạt án tử hình.
- - Đối với số tiền 3.216.500.000₫ (Ba tỷ hai trăm mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi đầu thú Vi Văn E khai nhận: Gia đình E có khoảng “Ba tỷ năm trăm triệu đồng”, E trả tiền thuê người múc đất hết 250.000.000 “Hai trăm năm mươi triệu”, làm nhà hết khoảng “Bảy mươi triệu”. Số tiền còn lại 3.216.500.000VNĐ (Ba tỷ hai trăm mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) cất giữ tại gầm giường nhà E, Công an đã thu giữ khi khám xét. Nguồn gốc số tiên trên là tiền của vợ chồng E buôn bán gỗ, tích góp mà có và tiền của em gái E là Vi Thúy Duyệt, sinh năm 1993, hiện đang lao động bên Hàn Quốc đã gửi về cho E mục đích là chung vốn với vợ chồng E để E mở cây xăng, dầu. Sau đó E thay đổi lời khai, E khai đó là tiền của chị gái là Vi Thị Diệp gửi nhà E. Tiến hành lấy lời khai bà Phạm Thị Nom (mẹ E), Lữ Thị Nghi (vợ E) và Vi Thị Diệp đều khai nhận: số tiền trên là tài sản của Vi Thị Diệp (do gia đình Diệp lao động tích góp trong nhiều năm), gửi tại nhà E. Việc E mua bán ma túy như thế nào Diệp hoàn toàn không biết và không liên quan.
- Đối với đồ vật, tài sản thu giữ của Đỗ Viết G:
- - Số tiền: 167.000.000đ (Một trăm sáu mươi bảy triệu đồng) do Lê Thị Hồng, sinh năm 1991 trú tại bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh TH (vợ G) giao nộp. Quá trình điều tra G khai nhận vào tối ngày 20/8/2022, tại Km39 V đã đưa, thanh toán tiền mua 02 bánh Heroine còn thiếu cho G là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng), tại Km39, theo sự chỉ đạo của E. Khi đưa tiền cho G thì V đã xin lại 3.000.000đ (Ba triệu đồng) để đổ xăng và chi phí trên đường đi về, G đồng ý cho lại V 3.000.000 đồng. Số tiền còn lại G mang về nhà cất giấu, nhưng không cho ai trong gia đình biết. Sau khi G bị bắt, Hồng dọn nhà đã phát hiện số tiền trên, nghi là tiền mua bán ma túy của G nên đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.
- - 04 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh; 01 điện thoại OPPO màu vàng; 01 điện thoại IPHONE màu xanh, 01 điện thoại IPHONE màu xám. Trong đó 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, G khai dùng để liên lạc mua bán ma túy.
- Đối với đồ vật, tài sản thu giữ của Hoàng Thị B:
- - Đối với 03 điện thoại di động thu giữ của Hoàng Thị B, quá trình điều tra xác định B đã dùng điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone màu vàng, gắn sim số 0793115116 để liên hệ với V mua bán trái phép chất ma túy; 02 (hai) chiếc điện thoại, Nokia gắn sim 0971.368.263 và Nokia màu đen còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội của B.
- - Đối với 04 (bốn) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP127227; DD075884; DD075883; BC031436, mang tên Hoàng Thị B; 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mang tên Lê Thành Long và Nguyễn Thị Mậu; 01 (một) hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 150/2022/HĐCN. B khai nhận đó đều là trích lục đất của B đã gửi bà Lê Thị Chiến (mẹ đẻ của V) cất giữ tại nhà V. Xét thấy số giấy tờ trên không liên quan đến hành vi phạm tội của B nên trả lại cho B là phù hợp.
Thu tại cơ sở kinh doanh ăn uống:
Thu trong vườn phía sau nhà Đỗ Viết Vũ:
Thu giữ tại nơi ở của Hoàng Thị B tại phố Tân Cộng, phường Đông Tân, thành phố TH: 03 điện thoại di động (gồm: 01 điện thoại Iphone màu vàng gắn sim 0793.115.116; 01 điện thoại Nokia gắn sim 0971.368.xxx và 01 điện thoại Nokia màu đen). (BL 59-60).
Tại bản kết luận giám định số 2889/KL-KTHS, ngày 26/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH, kết luận:
Do đó toàn bộ số ma túy, bao bì còn lại sau giám định và đồ vật, tài sản nêu trên, được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh TH để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản Cáo trạng số 108/CT-VKS-P1 ngày 12/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TH truy tố bị cáo Hoàng Thị B, Lê Hữu V, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 251 BLHS. Vi Văn E về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 251 BLHS và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 249 BLHS. Đỗ Viết G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h, khoản 4, Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Áp dụng điểm b, khoản 4, khoản 5 Điều 251 BLHS; điểm v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 40 BLHS.
- - Đề nghị xử phạt Hoàng Thị B tử hình.
- - Phạt bổ sung: Phạt tiền từ 05 triệu đến 10 triệu đồng.
- Áp dụng Điểm h, khoản 4, khoản 5 Điều 251 BLHS; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 40 BLHS.
- - Đề nghị xử phạt Đỗ Viết G tử hình
- - Phạt bổ sung: Phạt tiền từ 05 triệu đến 10 triệu đồng.
- Áp dụng điểm b, khoản 4, khoản 5 Điều 251 BLHS; điểm b, khoản 3, Điều 249 ; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 55, Điều 39 BLHS.
- - Đề nghị xử phạt Vi Văn E:
- + Tội “Mua bán trái phép chất ma túy”: Tù chung thân
- + Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Từ 11 năm đến 12 năm tù.
- Tổng hợp hình phạt 02 tội: Tù chung thân.
- - Phạt bổ sung: Phạt tiền từ 05 triệu đến 10 triệu đồng.
- Áp dụng điểm b, khoản 4, khoản 5 Điều 251 BLHS; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 39 BLHS.
- - Đề nghị xử phạt Lê Hữu V: Tù chung thân
- - Phạt bổ sung: Phạt tiền từ 05 triệu đến 10 triệu đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Đề nghị
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi bánh được bọc lớp nilon màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, lớp giấy dầu màu vàng, trong cùng là lớp nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng khối, gửi giám định có tổng khối lượng 696,77 gam là ma túy, loại Heroine (thu giữ khi bắt quả tang Lê Hữu V).
- + 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài từng bánh được bọc lớp nilon màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, màu vàng, trong cùng là lớp nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng khối, gửi giám định có tổng khối lượng 697,68 gam là ma túy, loại Heroine; 01 (một) túi nilon màu đen đựng 10 (mười) túi bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh, gửi giám định có tổng khối lượng 183,08 gam là ma túy, loại Methamphetamine (thu giữ khám xét nơi ở Đỗ Viết G).
- + 01 (một) túi nilon màu đen và 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh, gửi giám định có tổng khối lượng 31,52 gam là ma túy, loại Methamphetamine; 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, gửi giám định có khối lượng 22,11 gam là ma túy, loại Methamphetamine (thu giữ khám xét nơi ở Vi Văn E).
- Tịch thu sung công nhà nước
- - 01 điện thoại di động Samsung gắn 02 sim 0978508303; 0353246282 thu giữ của Lê Hữu V.
- - Số tiền 47.500.000₫ đã thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nhà ở của Lê Hữu V
- - 01 điện thoại di động NOKIA màu đen gắn sim số 0372061542 thu giữ của Vi Văn E.
- - Số tiền: 167.000.000đ do chị Lê Thị Hồng (vợ Đỗ Viết G) giao nộp
- - 01 điện thoại di động Nokia màu xanh thu giữ của Đỗ Viết G.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone màu vàng, gắn sim số 0793115116 thu giữ của Hoàng Thị B.
- Truy thu sung công nhà nước
- - Số tiền 35.500.000 đồng của Lê Hữu V.
- - Số tiền 190 triệu đồng của Vi Văn E.
- Quy trữ để đảm bảo thi hành án:
- - 01 (một) xe ôtô biển số 36A-201.77 đăng ký mang tên Lê Hữu V
- Trả lại:
- - Trả lại cho Lê Hữu V 01 điện thoại di động MASSTEL màu đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh, đều là dạng máy bàn phím.
- - Trả lại cho Vi Văn E 01 điện thoại di động NOKIA màu đen, loại máy bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho chị Vi Thị Diệp số tiền 3.216.500.000đ chị Diệp gửi tại nhà Vi Văn E, Lữ Thị Nghi
- - Trả lại cho anh Lương Văn Ngay 01 xe ôtô nhãn hiệu MAZDA, BT50, màu trắng, biển kiểm soát 36C-28471; cùng đăng ký xe số 069509, mang tên Lương Văn Ngay.
- - Trả lại cho Đỗ Viết G 01 điện thoại OPPO màu vàng; 01 điện thoại IPHONE màu xanh, 01 điện thoại IPHONE màu xám; một căn cước công dân mang tên Đỗ Viết G.
- - Trả lại cho Hoàng Thị B 01 điện thoại Nokia gắn sim 0971.368.xxx và 01 điện thoại Nokia màu đen; 04 (bốn) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP127227; DD075884; DD075883; BC031436, mang tên Hoàng Thị B; 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP127219, mang tên Lê Thành Long và Nguyễn Thị Mậu; 01 (một) hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 150/2022/HĐCN.
[8]. Về hình phạt bổ sung.
Các bị cáo mua bán ma túy nhằm mục tích tư lợi. Do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả 4 bị cáo.
[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Hoàng Thị B, Lê Hữu V, Đỗ Viết G phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, Vi Văn E phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b, khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 40 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt Hoàng Thị B: Tử hình.
- - Phạt bổ sung: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)
- - Xử phạt Đỗ Viết G: Tử hình
- - Phạt bổ sung: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
- - Xử phạt Vi Văn E
- + Tội “Mua bán trái phép chất ma túy”: Tù chung thân.
- + Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: 11 năm 6 tháng tù.
- Tổng hợp hình phạt 02 tội: Tù chung thân.
- - Phạt bổ sung: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)
- - Xử phạt Lê Hữu V: Tù chung thân.
- - Phạt bổ sung 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi bánh được bọc lớp nilon màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, lớp giấy dầu màu vàng, trong cùng là lớp nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng khối, gửi giám định có tổng khối lượng 696,77 gam là ma túy, loại Heroine (thu giữ khi bắt quả tang Lê Hữu V).
- + 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài từng bánh được bọc lớp nilon màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, màu vàng, trong cùng là lớp nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng khối, gửi giám định có tổng khối lượng 697,68 gam là ma túy, loại Heroine; 01 (một) túi nilon màu đen đựng 10 (mười) túi bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh, gửi giám định có tổng khối lượng 183,08 gam là ma túy, loại Methamphetamine (thu giữ khám xét nơi ở Đỗ Viết G).
- + 01 (một) túi nilon màu đen và 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh, gửi giám định có tổng khối lượng 31,52 gam là ma túy, loại Methamphetamine; 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, gửi giám định có khối lượng 22,11 gam là ma túy, loại Methamphetamine (thu giữ khám xét nơi ở Vi Văn E).
- Tịch thu sung công nhà nước
- - 01 điện thoại di động Samsung gắn 02 sim 0978508303; 0353246282 thu giữ của Lê Hữu V.
- - Số tiền 47.500.000đ đã thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nhà ở của Lê Hữu V
- - 01 điện thoại di động NOKIA màu đen gắn sim số 0372061542 thu giữ của Vi Văn E.
- - Số tiền: 167.000.000đ do chị Lê Thị Hồng (vợ Đỗ Viết G) giao nộp
- - 01 điện thoại di động Nokia màu xanh thu giữ của Đỗ Viết G.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone màu vàng, gắn sim số 0793115116 thu giữ của Hoàng Thị B.
- Truy thu sung công nhà nước
- - Số tiền 35.500.000 đồng của Lê Hữu V.
- - Số tiền 190.000.000đ (một trăm chín mươi triệu đồng) của Vi Văn E.
- Quy trữ để đảm bảo thi hành án:
- - 01 (một) xe ôtô biển số 36A-201.77 đăng ký mang tên Lê Hữu V
- Trả lại:
- - Trả lại cho Lê Hữu V 01 điện thoại di động MASSTEL màu đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh, đều là dạng máy bàn phím.
- - Trả lại cho Vi Văn E 01 điện thoại di động NOKIA màu đen, loại máy bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho anh Lương Văn Ngay 01 xe ôtô nhãn hiệu MAZDA, BT50, màu trắng, biển kiểm soát 36C-28471; cùng đăng ký xe số 069509, mang tên Lương Văn Ngay.
- - Trả lại cho chị Vi Thị Diệp số tiền 3.216.500.000đ thu giữ tại nhà Vi Văn E, Lữ Thị Nghi.
- - Trả lại cho Đỗ Viết G 01 điện thoại OPPO màu vàng; 01 điện thoại IPHONE màu xanh, 01 điện thoại IPHONE màu xám; một căn cước công dân mang tên Đỗ Viết G.
- - Trả lại cho Hoàng Thị B 01 điện thoại Nokia gắn sim 0971.368.xxx và 01 điện thoại Nokia màu đen; 04 (bốn) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP127227; DD075884; DD075883; BC031436, mang tên Hoàng Thị B; 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP127219, mang tên Lê Thành Long và Nguyễn Thị Mậu; 01 (một) hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 150/2022/HĐCN.
2.1 Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 40 Bộ luật hình sự.
2.2 Áp dụng khoản 4 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Thị B và Đỗ Viết G để đảm bảo Thị hành án.
2.4 Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm b, khoản 3, Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 55, Điều 39 Bộ luật hình sự.
* Điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 39 Bộ luật hình sự..
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016, ngày 30/12/2016 của UBTVQH:
Buộc các bị cáo Lê Hữu V, Vi Văn E, Đỗ Viết G mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Hoàng Thị B là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo, quyền gửi đơn xin ân giảm: Căn cứ Điều 331; Điều 333; điểm d khoản 1 Điều 367 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Hoàng Thị B, Đỗ Viết G được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả A thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Đình A |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ SỐ: /2024/HSST - QĐ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Thanh Hoá, ngày 15 tháng 5 năm 2024 |
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024-HSST, ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân tỉnh Thanh Hóa có lỗi do nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
- Về nội dung tại dòng thứ 4,5 từ trên xuống, trang 2 của bản án đã nêu trên đã ghi “....Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá."
- Tại dòng thứ 3 từ trên xuống, trang 28 của bản án nêu trên đã ghi “ dạng máy bàn phím."
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau “....Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hoá.”
Nay được bổ sung như sau “dạng máy bàn phím; 01 (một) xe ô tô biển số 36A – 201-77, đăng ký mang tên Lê Hữu Việt”
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Đình Thuận |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lời khai Lê Hữu V (ngay sau khi bị bắt quả tang và trong quá trình điều tra truy tố, V đều khai nhận thống nhất) về việc B gọi V đến nhà đưa 440 triệu đồng cho V nhờ V đi mua 2 bánh hê rooin; Lời khai nhận của V phù hợp với lời khai của Vi Văn E (là người V nhờ tìm mua ma túy): ban đầu khi V hỏi mua ma túy E không nhận lời nhưng khi V nói mua ma túy cho B thì E mới đồng ý vì E biết rõ B - E là người quen của Hoàng Thị Thái, chị gái B; trích xuất danh sách cuộc gọi giữa B và V về thời gian và địa điểm phát sinh cuộc gọi (V khai là B gọi đến hỏi về việc mua ma túy); Lời khai của Nguyễn Thị Trang (con dâu của B) về việc nhìn thấy V đến nhà B, thấy B và V đi vào trong phòng ngủ của vợ chồng Trang nhưng không biết trao đổi việc gì; Lời khai của Nguyễn Thị Thủy (vợ V) về việc nghe V nói đi xách hàng (ma túy) cho B); Lời khai của 3 đối tượng ở chung buồng tạm giam với B tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung (Tống Thị B, Nguyễn Thị Đức, Bùi Thị Xuân) về việc nghe B kể lại chuyện có đưa 440 triệu cho V đi mua ma túy, thấy B gõ ống cống nước trong buồng tạm giam để nói chuyện với đối tượng tên Thành (bị giam ở buồng tạm giam phía dưới) nhờ Thành chuyển lời đến Lê Hữu V bảo thay đổi lời khai; lời khai của Lê Hữu V về việc có một đối tượng cùng bị giam giữ trong Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung nhắn lại với V là B nhắn V thay đổi lời khai. Ngoài các chứng cứ nêu trên, xét về nhân thân thì Hoàng Thị B đã nhiều lần bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
