Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày 19-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thủy
  2. Ông Tống Xuân Tú.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/HSST-QĐ, ngày 09-7-2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L, sinh ngày 07 tháng 8 năm 1995, tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964 và bà Chu Thị Thúy H, sinh năm 1971; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có chồng là Nguyễn Duy P, sinh năm 1993; có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19-3-2024, hiện tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nghiêm Thị T, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Tổ dân phố (viết tắt là TDP) Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình (đã chết).

- Những người đại diện hợp pháp của chị Nghiêm Thị T:

  1. Ông Nghiêm Đình T1, sinh năm 1937 (là bố đẻ chị T) - vắng mặt.
  2. Bà Đặng Thị Đ1, sinh năm 1944 (là mẹ đẻ chị T) - có mặt.
  3. Cháu Nguyễn Văn P1, sinh ngày 02/7/2006 (là con chị T) - có mặt.

Đều cư trú: TDP Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Những người làm chứng:

2

  1. Anh Nguyễn Bá L1, sinh năm 1987 (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Thế C, sinh năm 1953 (vắng mặt)

Đều cư trú tại: TDP Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 7 giờ 10 phút ngày 24/02/2024, Nguyễn Thị L (có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 28/4/2016), điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision Biển số 17B4-547.64 đi đến Công ty TNHH G ở xã H, huyện H để làm việc. Đến khoảng 7 giờ 20 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng hơn 50km/h (trong điều kiện trời mưa, đường trơn) đi đến km 50+100 đường Q hướng từ xã H đi đến Thị trấn H thuộc địa phận T2, thị trấn H, huyện H thì phát hiện thấy phía trước cùng chiều (cách khoảng 10 mét) chị Nghiêm Thị T, sinh năm 1976, cư trú tại TDP Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình điều khiển xe đạp đang sang đường theo hướng từ phải sang trái theo chiều đi của L. Liên tiếp tục điều khiển xe máy giữ nguyên tốc độ di chuyển về phía trước. Khi cách xe đạp do chị T điều khiển khoảng 5 mét, L bóp phanh làm cho xe máy đổ nghiêng trái ra đường, lao về phía trước khiến phần đầu xe máy va chạm với đuôi xe đạp do chị T điều khiển làm xe đạp đổ nghiêng trái, chị T ngã đập vùng đầu bên trái xuống đường. L bị ngã theo xe máy về phía trước. Sau đó, chị T được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện H, sau chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T. Do thương tích nặng, chị T được gia đình đưa về nhà và chết hồi 14 giờ cùng ngày tại nhà.

Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 270 ngày 06/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “ Nguyên nhân chết nạn nhân Nghiêm Thị T chết do chấn thương sọ não. Cơ chế hình thành vết thương: Do va đập, chà xát với vật tày cứng”.

Bản cáo trạng số 80/CT-KSHH ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại số tiền 180.000.000 đồng.

Đại diện của người bị hại bà Đ1 và cháu P1 trình bày: Bà và cháu nhất trí với lời trình bày của bị cáo L. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo L đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 180.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền nào khác.

3

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Liên t 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo L cho Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 180.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào tiền khác. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo L 01 giấy phép lái xe ghi tên Nguyễn Thị L. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người làm chứng và người đại diện hợp pháp cho bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

4

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn trình báo ngày 24/02/2024 của anh Nguyễn Bá L1 và Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an thị trấn H lập ngày 24/02/2024; Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ và bản ảnh hiện trường do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 24/02/2024; Biên bản khám nghiệm tử thi do Phòng K Công an tỉnh T lập ngày 24/02/2024 ; Giấy chứng nhận thương tích ngày 06/3/2024 của Bệnh viện Đ, tỉnh Thái Bình đối với chị Nghiêm Thị T; Bản kết luận giám định tử thi số 270/KLGĐTT-KTHS ngày 06/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Biên bản khám nghiệm và bản ảnh phương tiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H lập ngày 26/02/2024; Công văn số 907 ngày 26/4/2024 và Công văn số 1046 ngày 15/5/2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh T; Biên bản trích xuất dữ liệu camera hồi 15 giờ 30 phút ngày 24/02/2024; Bản kết luận giám định số 439/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Lời khai của bà Đặng Thị Đ1; anh Nguyễn Bá L1 và ông Nguyễn Thế C cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 24/02/2024, tại Km 50+100 đường Q hướng từ xã H đi Thị trấn H thuộc địa phận T2, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; bị cáo Nguyễn Thị L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 17B4-547.64 trong điều kiện trời mưa, mặt đường trơn đã không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy cùng chiều, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, phanh gấp làm xe mô tô bị đổ nên phần đầu xe mô tô do bị cáo L điều khiển đã va chạm với phần đuôi xe đạp do chị Nghiêm Thị T điều khiển đi phía trước cùng chiều đang chuyển hướng sang đường từ phải sang trái theo chiều đi. Hậu quả làm chị T chết.

Hành vi nêu trên của bị cáo vi phạm khoản 1 Điều 12, và khoản 5, khoản 11 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1; hậu quả làm chết một người. Hành vi trên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe.

“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.....”

Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ C1 quy định về các trường hợp phải giảm tốc độ.

Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

5

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

  • Qua khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập trung nhiều người; khu vực đông dân cư, nhà máy, công sở tập trung bên đường; khu vực đang thi công trên đường bộ; hiện trường xảy ra tai nạn giao thông;
  • Trời mưa; có sương mù, khói, bụi; mặt đường trơn trượt, lầy lội, có nhiều đất đá, vật liệu rơi vãi;

Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

...;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng, đối với hành vi phạm tội của bị cáo H1 thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị L là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng. Vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn, hối cải; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Vì vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa

6

có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo bản thân, bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, hơn nữa tai nạn xảy ra cũng do một phần lỗi của bị hại do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm bồi thường: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận việc bị cáo đã bồi thường xong cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 180.000.000 đồng và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Xét thấy sự thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.

[7] Đối với hành vi điều khiển xe mô tô không có Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực của Nguyễn Thị L, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thị L là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị L do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 28/4/2016 đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

3. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận

7

giữa bị cáo với những người đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng), những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị L phải bồi thường thêm khoản nào tiền khác.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị L 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị L do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 28/4/2016 (kèm theo biên bản bàn giao hồ sơ vụ án).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị L, bà Đặng Thị Đ1 và cháu Nguyễn Văn P1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nghiêm Đình T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger