TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HS-ST
Ngày: 12 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Văn Công Minh
- Bà Lâm Thị Thu
Thư ký phiên toà: Bà Hà Hoa Thiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 25/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 680/2024/QĐXXST-HS ngày 21/12/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Danh Văn H; Giới tính: Nam; sinh năm 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Đăng ký thường trú: không đăng ký thường trú; Chỗ ở hiện nay: không có chỗ ở nhất định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn S và bà Danh Thị L; vợ, con: không; Tiền án: Ngày 08/6/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 49/2020/HS-ST. Danh Văn H chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2024 và đã nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm, 1.206.250đ tiền án phí dân sự sơ thẩm thẩm theo quy định; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 19/8/2014, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Chứa mại dâm”, theo Bản án số 163/2014/HSST; Ngày 24/5/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, theo Quyết định số 207/2018/QĐ-TA. Danh Văn H chấp hành xong Quyết định ngày 14/8/2019; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/7/2024 đến nay (có mặt).
Bị hại:
- Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1988 (vắng mặt).
- Ông Đặng Văn T, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số B ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Phương T1, sinh năm 2004
Địa chỉ: Số B H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23h00” ngày 06/7/2024, Nguyễn Hữu T2 điều khiển xe môtô biển số 73D1-239.86 đến gặp Danh Văn H tại thị trấn N, huyện N để lấy tiền nợ. Do H không có tiền để trả cho T2 nên rủ T2 đi trộm cắp xe môtô bán lấy tiền tiêu xài và trả nợ cho T2, thì T2 đồng ý. H đưa cho T2 01 túi xách bên trong có công cụ dùng để bẻ khóa cổng và xe môtô. Khi H điều khiển xe môtô biển số 73D1-239.86 chở T2 lưu thông trên đường L, xã P, huyện N đi tìm xe môtô để trộm cắp, thì bị Tổ công tác Công an huyện N kiểm tra, phát hiện.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Danh Văn H khai nhận đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện N, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 22h20” ngày 17/6/2024, Phan Quốc M gọi điện thoại rủ Danh Văn H đi trộm cắp tài sản của người khác, bán lấy tiền tiêu xài. H đồng ý, M điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đen (không rõ biển số) đến thị trấn N, huyện N chở H đi tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 01h30” ngày 18/6/2024, M điều khiển xe môtô chở H đến trước nhà số B, đường H, thị trấn N, huyện N thì phát hiện trong sân nhà có đậu 01 chiếc xe môtô biển số 63B3-433.71 của chị Nguyễn Phương T1, không người trông coi. Thấy vậy, M dừng xe lại và lấy 01 chiếc mỏ lết (chuẩn bị sẵn) đưa cho H để H trực tiếp bẻ khóa cửa cổng đột nhập vào trong trộm cắp xe, còn M cảnh giới. H dùng chiếc mỏ lết bẻ gãy khoen cửa, đột nhập vào trong sân nhà rồi dắt trộm chiếc xe môtô biển số 63B3- 433.71 ra khỏi cổng. M đưa cho H một bộ dụng cụ (đoản) để H mở khóa nguồn chiếc xe vừa trộm cắp được. Sau khi khởi động được máy xe, H đưa lại cho M cất giữ chiếc mỏ lết và bộ Đ, rồi điều khiển chiếc xe vừa trộm cắp được chạy trước, còn M điều khiển chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha cùng chạy thoát hướng Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi, H gọi điện thoại cho T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) để bán xe vừa trộm cắp được thì T3 đồng ý mua với giá 8.000.000đ và hẹn gặp nhau ở quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại điểm hẹn, H bán xe môtô biển số 63B3-433.71 cho T3 với giá 8.000.000đ, chia đều cho M mỗi người 4.000.000đ tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 23h30” ngày 21/6/2024, Danh Văn H đang giữ xe cho quán B tại phố đi bộ B, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, thì Phan Quốc M đến gặp và rủ H đi trộm cắp, M đã chuẩn bị sẵn công cụ để bẻ khóa xe môtô và bẻ khóa cổng nhà, H đồng ý. Sau đó, H mượn xe của người bạn tên là H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) chở M đi qua các tuyến đường từ Quận A, Quận D, Quận G đến địa bàn huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm tài sản trộm cắp. Lúc này, M đưa cho H túi xách chứa công cụ để bẻ khóa xe môtô và khóa cửa cổng. Khi H điều khiển xe môtô đến hẻm B, ấp A, xã N, huyện N thì M nói H dừng xe lại, M xuống xe đi đến trước nhà số B, ấp A, xã N, huyện N, H điều khiển xe môtô cách nhà số B khoảng 15 mét đứng cảnh giới. Sau khi bẻ được khóa cửa cổng, M quay ra đưa lại mỏ lết cho H cất vào túi. Do sợ bị chủ nhà phát hiện, H điều khiển xe môtô chở M chạy khỏi hiện trường, một lúc sau H và M quay lại nhà số B. Lúc này, H ngồi trên xe môtô cảnh giới, còn M đi vào trong sân nhà trộm cắp chiếc xe môtô biển số 35B2-490.72 của anh Nguyễn Thanh P. Do M dùng đoản phá ổ khóa, làm đoản bị gãy mũi dính vào ổ khóa xe nên không khởi động được hệ thống điện nên M để lại chiếc xe môtô biển số 35B2-490.72 tại hiện trường rồi quay ra lên xe H chở rời khỏi hiện trường. Một lúc sau, H tiếp tục chở M quay lại nhà số B để trộm cắp xe môtô. H ngồi trên xe môtô cảnh giới, còn M đi vào bên trong nhà, lúc này M không lấy chiếc xe đã bẻ khoá mà lấy chiếc xe để bên cạnh là xe môtô biển số 59Z1-245.42 của anh Đặng Văn T đẩy ra chỗ H. Lúc này, H qua điều khiển xe môtô biển số 59Z1-245.42, còn M điều khiển xe môtô Winner để đẩy chiếc xe môtô biển số 59Z1-245.42 chạy về Quận G. Trên đường đi, M gọi điện thoại cho T3 để thỏa thuận bán chiếc xe môtô vừa lấy trộm được. H và M đem xe môtô vừa trộm được về trạm xe buýt thuộc phường P, Quận G để gửi cho một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch, là bạn của M) giữ.
Vụ thứ ba: Sau khi gửi chiếc xe vừa trộm cắp, M và H tiếp tục quay lại căn nhà số B để trộm cắp chiếc xe môtô biển số 35B2-490.72. Khi đến nơi, M đi bộ vào đẩy chiếc xe môtô biển số 35B2-490.72 ra ngoài, H trực tiếp điều khiển xe môtô biển số 35B2-490.72, còn M điều khiển xe môtô Winner để đẩy xe môtô biển số 35B2-490.72 chạy thoát. Khi về đến ngã tư đường P và đường A, phường P, Quận G thì T3 điều khiển xe môtô loại Wave RS màu đen, không rõ biển số chở theo vợ của T3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch, là bạn của H và M) đến gặp M. Sau đó, M và H bán chiếc xe môtô biển số 59Z1-245.42 với giá 3.000.000đ và chiếc xe môtô biển số 35B2-490.72 với giá 6.000.000đ cho vợ chồng T3. Sau khi bán xe, M chia cho Hoàng 1.500.000đ, Minh giữ 7.500.000đ; H chạy xe môtô W về đường B để trả cho H1, còn M và bạn của M đi đâu không rõ.
Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTTHS ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận: 01 chiếc xe môtô biển số 63B3-433.71, màu xanh nâu, sản xuất năm 2015, tình trạng đã qua sử dụng, được định giá là 22.000.000đ.
Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTTHS ngày 11/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận:
- 01 chiếc xe môtô biển số 59Z1-245.42, màu đỏ đen, sản xuất năm 2015, tình trạng đã qua sử dụng, được định giá là 8.500.000đ.
- 01 chiếc xe môtô biển số 35B2-490.72, màu xanh nâu, sản xuất năm 2018, tình trạng đã qua sử dụng, được định giá là 7.800.000₫.
Tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKS-NB ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo Danh Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Danh Văn H từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại, cụ thể: bồi thường cho ông Nguyễn Thanh P 8.500.000đ, bồi thương cho ông Đặng Văn T 7.800.000đ, bồi thường cho bà Nguyễn Phương T1 22.000.000đ.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 cây kềm bằng kim loại; 01 cây mỏ lết bằng kim loại, màu bạc; 01 cây cờ lê bằng kim loại, màu bạc; 01 cây lục giác bằng kim loại; 01 cây đoản bằng kim loại; 01 cục từ dùng mở nắp khóa từ xe môtô, bằng kim loại, màu vàng; 01 chiếc nón bảo hiểm, màu xanh sọc trắng và 01 chiếc áo thun, tay dài, màu xanh. Giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu cam đen, số khung: RLHKC2603GY099864, số máy: KC26E1136384.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố Tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định:
Vào khoảng 01h30 ngày 18/6/2024, tại nhà số B, đường H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, Danh Văn H đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe môtô biển số 63B3-433.71 của chị Nguyễn Phương T1, trị giá 22.000.000đ.
Vào khoảng 01h30” ngày 22/6/2024, tại nhà số B, ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, Danh Văn H đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe môtô biển số 59Z1-245.42 của anh Đặng Văn T, trị giá 8.500.000₫ đưa đi cất dấu, sau đó H tiếp tục quay lại địa chỉ trên chiếm đoạt một xe môtô biển số 35B2-490.72 của anh Nguyễn Thanh P, trị giá 7.800.000đ.
Ngày 08/6/2020, bị cáo Danh Văn H đã bị Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung là “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” do bị cáo cùng đồng phạm thực hiện 05 vụ trộm cắp. Danh Văn H chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2024. Đến ngày 18 và ngày 22/6/2024, Danh Văn H tiếp tục thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản. Do đó, hành vi phạm tội của Danh Văn H thuộc trường hợp phạm tội “Có tính chất chuyên nghiệp”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ngày 18 và ngày 22/6/2024, Danh Văn H tiếp tục thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản là tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết “Có tính chất chuyên nghiệp” nay lại tiếp tục thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản, điều đó chứng tỏ, bị cáo muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên toà khai báo thành khẩn.
[4] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Về xử lý vật chứng và Biện pháp tư pháp:
[5.1] 01 xe môtô, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu cam đen, biển số 73D1-239.86, số khung: RLHKC2603GY099864, số máy: KC26E1136384. Nguyễn Hữu T2 khai mua ngày 01/7/2024, với biển số 50Y1-175.68 của anh Nguyễn Văn H2, nhưng không làm hợp đồng mua bán và thủ tục sang tên. Anh H2 có đưa bản photocopy giấy đăng ký xe và căn cước công dân của anh H2 cho T2 giữ. Khi T2 sử dụng chiếc xe nêu trên lưu thông trên đường thì bị rớt mất biển số 50Y1-175.68 và được người bạn tên là T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) đưa cho biển số 73D1-239.86 để gắn vào chiếc xe sử dụng. Sau đó, T2 sử dụng chiếc xe gắn biển số 73D1-239.86 cùng Danh Văn H trên đường đi trộm cắp tài sản thì bị phát hiện thu giữ.
Anh Nguyễn Văn H2 khai nhận vào khoảng tháng 9/2023, anh H2 có lên mạng Facebook để tìm mua xe môtô đã qua sử dụng và mua của 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu cam đen, số khung: RLHKC2603GY099864, số máy: KC26E1136384, biển số 50Y1-175.68. Đến khoảng đầu tháng 7/2024, anh H2 bán lại chiếc xe môtô trên cho Nguyễn Hữu T2 với giá 9.000.000đ.
Qua xác minh, xác định chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu cam đen, số khung: RLHKC2603GY099864, số máy: KC26E1136384 có biển số đúng là 50Y1-175.68, do chị Huỳnh Thị Thu H3 đứng tên đăng ký xe. Chị H3 khai vào tháng 12/2017, chị H3 có mua mới và đứng tên đăng ký chiếc xe nêu trên và sau đó đã bán lại cho 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch (có làm giấy tờ mua bán viết tay nhưng đã bị thất lạc).
Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe nên cần giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Riêng biển số xe 73D1-239.86 Công an huyện N đã tách hồ sơ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[5.2] 01 cây kềm bằng kim loại; 01 cây mỏ lết bằng kim loại, màu bạc; 01 cây cờ lê bằng kim loại, màu bạc; 01 cây lục giác bằng kim loại; 01 cây đoản bằng kim loại; 01 cục từ dùng mở nắp khóa từ xe môtô, bằng kim loại, màu vàng; 01 chiếc nón bảo hiểm, màu xanh sọc trắng và 01 chiếc áo thun, tay dài, màu xanh bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[6] Về bồi thường dân sự: Theo lời khai của các bị hại thì giá trị chiếc xe của các bị hại khi mua là: ông Nguyễn Thanh P 20.000.000đ; ông Đặng Văn T 21.000.000đ và bà Nguyễn Phương T1 35.000.000đ, vì vậy, bị hại yêu cầu bồi thường theo giá trị tại thời điểm mua xe. Tuy nhiên, qua định giá tài sản, giá trị chiếc xe tại thời điểm bị mất được định giá là: chiếc xe của ông P 7.800.000₫, chiếc xe của ông T 8.500.000đ, chiếc xe của bà T1 22.000.000đ. Tại phiên toà, bị hại vắng mặt, bị cáo không đồng ý với yêu cầu bồi thường của bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, cần căn cứ vào giá trị tài sản tại thời điểm bị mất để buộc bị cáo bồi thường như kết luận của Hội đồng định giá là phù hợp.
[7] Đối với lời khai của Danh Văn H về việc cùng Phan Quốc M thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 18 và ngày 22 tháng 6 năm 2024, tuy nhiên chỉ có lời khai của H và đến nay chưa làm việc được với M nên cơ quan Cảng sát điều tra Công an huyện N đã ra quyết định truy tìm đối với M, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[8] Đối với Nguyễn Hữu T2 là người cùng Danh Văn H đi tìm tài sản trộm cắp vào ngày 07/7/2024, tuy nhiên, T2 và H chưa trộm cắp được tài sản thì bị phát hiện, do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không khởi tố đối với T2.
[9] Đối với H1 và vợ chồng T3, do không rõ nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Danh Văn H 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/7/2024.
[2] Về xử lý vật chứng và Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
[2.1] Tịch thu tiêu huỷ: 01 cây kềm bằng kim loại, kích thước (20×05)cm, dài khoảng 13,5cm; 01 cây mỏ lết bằng kim loại, màu bạc, dài khoảng 20cm; 01 cây cờ lê bằng kim loại, màu bạc, dài khoảng 6cm; 01 cây lục giác bằng kim loại, dài khoảng 7cm; 01 cây đoản bằng kim loại, dài khoảng 8cm; 01 cục từ dùng mở nắp khóa từ xe môtô, bằng kim loại, màu vàng, dài khoảng 4,5 cm; 01 chiếc nón bảo hiểm, màu xanh sọc trắng và 01 chiếc áo thun, tay dài, màu xanh.
[2.2] Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đăng thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu cam đen, số khung: RLHKC2603GY099864, số máy: KC26E1136384. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng thông báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
(Theo phiếu nhập kho số 2025-NK011 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh)
[3] Về bồi thường dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Danh Văn H phải bồi thường cho ông Nguyễn Thanh P 7.800.000đ; bồi thường cho ông Đặng Văn T 8.500.000đ và bồi thường cho bà Nguyễn Phương T1 22.000.000đ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo Danh Văn H chậm thi hành khoản tiền bồi thường nêu trên thì bị cáo Danh Văn H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải bồi thường theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[4] Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Danh Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.915.000đ đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Danh Văn H phạm tội trộm cắp tài sản
