Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày: 12-6-2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phơ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Mai Thị Thanh Hương
  2. Bà Lê Thị Hảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Đức, Thư ký Toà án Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Trần Duy An - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Hoàng T (Tên gọi khác: /), sinh ngày 03/8/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số F đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; họ và tên cha: (Giấy khai sinh của bị cáo không ghi tên cha bị cáo, tại phiên toà bị cáo khai cha bị cáo tên Trần Văn T1– Đã chết), họ và tên mẹ: Trần Thị Minh N; chưa có vợ con; tiền sự: Không.

Tiền án:

  • Bản án số 136/2017/HSST ngày 12/5/2017, Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • Bản án số 141/2019/HSST ngày 30/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • Bản án số 94/2021/HSST ngày 19/5/2021, Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • Bản án số 20/2022/HSST ngày 21/04/2022, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Nhân thân: Bản án số 34/2010/HSST ngày 09/4/2010, Tòa án nhân dân Quận 4 xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2023; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Huỳnh Thị Cẩm G, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Số nhà A đường N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/08/2023, Trần Hoàng T đi bộ từ Quận D sang Quận G tài sản trộm cắp, đi đến nhà trọ, địa chỉ: Số A đường N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thấy cửa nhà trọ không khóa, T đi vào, đến trước phòng thứ 3 của dãy trọ, T thấy xe máy hiệu Honda Vision, màu đỏ biển số 64D1-266.71 đang gắn sẵn chìa khóa xe. T lén lút mở ổ khóa thắng đĩa phía trước của xe, dắt bộ chiếc xe khỏi nhà trọ, tẩu thoát ra đường H hướng theo Quận G về Quận D đi đến ngã ba đường T và N, bị tổ tuần tra 363 công an Q phát hiện nghi vấn nên đưa T về công an PQuận Dlàm rõ, Trần Hoàng T khai nhận hành vi trộm cắp tài sản.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Hoàng T khai nhận hành vi trộm cắp tài sản.

Kết luận định giá tài sản số 238/KL-HDĐGTTHS ngày 21/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận G: 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 64D1-266.71 đăng ký lần đầu tháng 11/2015 có trị giá là 19.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 thanh kim loại dài khoảng 27cm, quấn băng keo đen.
  • 01 thanh kim loại màu bạc dài khoản 14cm.
  • 01 đầu tuýp lục giác dài khoản 2.5cm trên thân tuýp có ghi chữ TOP.
  • 01 bịch nhựa mà đen dài 30cm, rộng 24cm.
  • 01 thanh kim loại dài khoản 5cm, một đầu dẹp và một đầu hình lục giác.
  • 01 thanh kim loại dài khoản 7,5cm, một đầu dẹp và một đầu hình lục giác.
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, có sim 0899537445.
  • 01 nón lưỡi trai bằng vải màu đen.
  • 01 khẩu trang vải sọc trắng, đen.
  • 01 áo thun ngắn tay màu đen.
  • 01 quần dài màu xanh.
  • 01 đôi dép màu trắng, trên quai dén có ghi chữ DUWA.
  • 01 xe máy hiệu Vision màu đỏ, biển số 64D1-266.71.

Cáo trạng số 32/CT-VKSQ7 ngày 31/01/2024 của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7 truy tố bị cáo Trần Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại các điểm b, g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng các điểm b, g Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt: Trần Hoàng T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

Đề nghị xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ các công cụ gồm: 01 (một) thanh kim loại dài khoảng 27cm, quấn băng keo đen; 01 (một) thanh kim loại màu bạc dài khoản 14cm; 01 (một) đầu tuýp lục giác dài khoản 2.5cm trên thân tuýp có ghi chữ TOP. 01 (một) bịch nhựa mà đen dài 30cm, rộng 24cm; 01 (một) thanh kim loại dài khoản 5cm, một đầu dẹp và một đầu hình lục giác; 01 (một) thanh kim loại dài khoản 7,5cm, một đầu dẹp và một đầu hình lục giác; 01 (một) nón lưỡi trai bằng vải màu đen; 01 (một) khẩu trang vải sọc trắng, đen; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần dài màu xanh; 01 (một) đôi dép màu trắng, trên quai dén có ghi chữ DUWA.

Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, có sim 0899537445.

Xe máy hiệu Vision màu đỏ, biển số 64D1-266.71 đã trả lại cho bị hại đề nghị không xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại nhận lại tài sản không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra C, Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

[3] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Trần Hoàng T thực hiện hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản là xe máy hiệu Vision màu đỏ, biển số 64D1-266.71 của bị hại, theo Kết luận định giá tài sản số 238/KL-HĐĐGTTHS ngày 21/8/2023, xe gắn máy tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 19.000.000 (Mười chín triệu) đồng.

[4] Bị cáo nhiều lần bị kết án chưa được xóa án tích: Ngày 12/5/2017, Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 136/2017/HSST). Ngày 30/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 141/2019/HSST). Ngày 19/5/2021, Tòa án nhân dân Quận 1, xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 94/2021/HSST). Ngày 21/04/2022, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

[5] Bị cáo không có nghề nghiệp, đi trộm cắp tài sản để lấy tiền làm nguồn sống và tiêu xài, đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản, thuộc các trường hợp tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích. Nên lần phạm tội này của bị cáo đã cấu thành tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6] Xét bị cáo đã có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Vì động cơ, mục đích tham lam, tư lợi. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm hại trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn ở địa phương, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 09/4/2010 bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 34/2010/HSST). Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Xử lý vật chứng:

[7] Các phương tiện, dụng cụ thu giữ của bị cáo cất giữ với mục đích dùng để thực hiện trộm cắp tài sản nên tịch thu tiêu quỹ, gồm: 01 (một) thanh kim loại dài khoảng 27cm, quấn băng keo đen; 01 (một) thanh kim loại màu bạc dài khoản 14cm; 01 (một) đầu tuýp lục giác dài khoản 2.5cm trên thân tuýp có ghi chữ TOP; 01 (một) bịch nhựa mà đen dài 30cm, rộng 24cm; 01 (một) thanh kim loại dài khoản 5cm, một đầu dẹp và một đầu hình lục giác; 01 (một) thanh kim loại dài khoản 7,5cm, một đầu dẹp và một đầu hình lục giác; 01 (một) nón lưỡi trai bằng vải màu đen; 01 (một) khẩu trang vải sọc trắng, đen; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần dài màu xanh; 01 (một) đôi dép màu trắng, trên quai dén có ghi chữ DUWA.

[8] Điện thoại di động hiệu Nokia 105, có sim 0899537445 đã qua sử dụng, không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[9] Xe máy hiệu Vision màu đỏ, biển số 64D1-266.71 bị cáo chiếm đoạt của bị hại, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại là có cơ sở.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng các điểm b, g Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng T 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2023.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình năm 2017 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) thanh kim loại dài khoảng 27cm, quấn băng keo đen; 01 (một) thanh kim loại màu bạc dài khoản 14cm; 01 (một) đầu tuýp lục giác dài khoản 2.5cm trên thân tuýp có ghi chữ TOP; 01 (một) bịch nhựa mà đen dài 30cm, rộng 24cm; 01 (một) thanh kim loại dài khoản 5cm, một đầu dẹp và một đầu hình lục giác; 01 (một) thanh kim loại dài khoản 7,5cm, một đầu dẹp và một đầu hình lục giác; 01 (một) nón lưỡi trai bằng vải màu đen; 01 (một) khẩu trang vải sọc trắng, đen; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần dài màu xanh; 01 (một) đôi dép màu trắng, trên quai dén có ghi chữ DUWA.

Trả lại cho bị cáo Trần Hoàng T 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, có sim 0899537445 đã qua sử dụng.

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 056 ngày 23/02/2024 – Bút lục 219a).

3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Hoàng T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:
- TAND TPHCM; (1)
- Sở Tư pháp TPHCM (1)
- VKSND Quận 7; (2)
- Công an Quận 7; (1)
- Chi cục THADS Quận 7; (1)
- Bị cáo (1)
- Người tham gia tố tụng khác; (1)
- THAHS (5)
- Lưu án, VP, Hs... (TK Đức) (4)
(17)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa


(Đã ký)
Lê Thị Phơ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger