Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày 06/8/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Quế.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương Dung;

Ông Kim Niệm.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Ngọc S, sinh ngày 19/9/1996 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Khu dân cư S, TDP T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú tại: B T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ điện lạnh; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc C và bà Phạm Thị R; tiền sự: Không; tiền án: Không.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Thanh L, sinh năm 1957. Nơi cư trú: 702 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
  2. Ông Huỳnh Ngọc S1, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Khu dân cư S, TDP T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt
  3. Bùi Thị S2, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Tổ C, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Phan T, sinh năm 2002. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu mua pháo hoa nổ để đốt vào dịp tết Nguyên Đán nên khoảng tháng 6/2023, Huỳnh Ngọc S sử dụng điện thoại nhãn hiệu VIVO truy cập vào trang “Pháo hoa 2024” trên ứng dụng Facebook liên lạc với một đối tượng (chưa rõ nhân thân lai lịch) để hỏi mua 20 hộp pháo hoa nổ thì người này đồng ý, thỏa thuận mua bán là 13.000.000 đồng/20 hộp pháo. Sau đó (không nhớ ngày tháng cụ thể) S nhờ một người bạn (chưa rõ nhân thân lai lịch) chuyển khoản trước cho người bán số tiền 6.500.000 đồng để đặt cọc. Ngày 04/01/2024, người bán pháo hoa sử dụng số điện thoại 0911.043.xxx gọi cho S nói có pháo hoa rồi và thỏa thuận với S sẽ giao pháo hoa tại khu vực nhà thờ N1, xã A, huyện P. S thuê ông Trần Thanh L (là người chạy xe ôm) đến khu vực nhà T, xã A, huyện P để lấy pháo hoa nổ cho S nhưng không nói cho ông L biết đó là pháo hoa mà nói với ông L đi lấy 02 thùng hạt điều và đưa số điện thoại 0911.043.xxx cho ông L để liên hệ nhận hàng. S nhờ em trai tên Huỳnh Ngọc S1 chuyển khoản vào số tài khoản của ông L số tiền 6.500.000 đồng để ông L rút đưa tiền mặt cho người bán. Sau khi nhận tiền chuyển khoản, ông L điều khiển xe mô tô biển số 60B4-918.12 đến khu vực nhà T, xã A, huyện P gọi điện thoại liên lạc với người bán qua số 0911043398 rồi hẹn gặp nhau, tại đây người bán đưa cho ông L 02 thùng carton được bọc kín, L đưa cho người bán số tiền 6.500.000 đồng rồi chở 02 thùng pháo hoa nổ đi về Thành phố Hồ Chí Minh. Khi ông L đi đến đường ĐT741 thuộc khu phố, thị trấn P, huyện P thì bị lực lượng công an huyện P tuần tra phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ:

- 20 khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, tổng trọng lượng là 29,5kg; 01 xe mô tô biển số nhãn hiệu Wave biển số 60B4-918.12; 01 điện thoại di động hiệu S4 A12 của Trần Thanh L; 01 căn cước công dân mang tên Trần Thanh L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh của Huỳnh Ngọc S; 01 căn cước công dân mang tên Huỳnh Ngọc S.

Bản kết luận giám định số 815/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu vật gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 29,5kg.

Xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô biển số nhãn hiệu Wave biển số 60B4-918.12; 01 điện thoại di động hiệu S4 A12 của Trần Thanh L; 01 căn cước công dân mang tên Trần Thanh L. Đây là tài sản và giấy tờ hợp pháp của ông L, khi được S nhờ đi lấy 02 thùng hạt điều thì ông L không biết đây là pháo hoa nổ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản trên cho ông L, ông L nhận tài sản và không có yêu cầu gì.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh của Huỳnh Ngọc S; 01 căn cước công dân mang tên Huỳnh Ngọc S, xét thấy căn cước công dân là giấy tờ hợp pháp của S, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại căn cước công dân cho S. Đối với điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Mẫu vật hoàn lại sau giám định là 15 khối hình hộp chữ nhật được niêm phong trong 01 thùng carton có chữ ký của ông Bồ Thanh T1 và ông Đỗ Minh Q, có dấu mộc đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Cáo trạng số 67/CT-VKSPG ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc S về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc S số tiền từ 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) đến 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh thu giữ của Huỳnh Ngọc S, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Mẫu vật hoàn lại sau giám định là 15 khối hình hộp chữ nhật được niêm phong trong 01 thùng carton có chữ ký của ông Bồ Thanh T1 và ông Đỗ Minh Q, có dấu mộc đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Trong phần tranh luận:

Bị cáo Huỳnh Ngọc S cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là không đúng tội của bị cáo, vì bị cáo chỉ mua pháo hoa quốc phòng về để sử dụng và bị cáo chưa nhận được hàng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và biện pháp tư pháp.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Huỳnh Ngọc S cho rằng bị cáo chỉ mua pháo hoa quốc phòng về để sử dụng và bị cáo chưa nhận được hàng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị S2 và người làm chứng Lê Phan T: Toà án đã triệu tập hợp lệ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị S2 và người làm chứng Lê Phan T để tham gia phiên toà nhưng bà S2, ông T vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị S2 và người làm chứng Lê Phan T không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc S đã khai nhận: Do có nhu cầu có pháo hoa nổ để đốt trong dịp Tết Nguyên Đán nên bị cáo Huỳnh Ngọc S sử dụng điện thoại nhãn hiệu VIVO truy cập vào trang “Pháo hoa 2024” trên ứng dụng Facebook, liên lạc với một đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) mua 20 hộp pháo hoa nổ với giá 13.000.000 đồng. Ngày 04/01/2024, bị cáo S thuê ông Trần Thanh L đi lấy pháo hoa nổ cho S. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi ông L đang trên đường vận chuyển 20 hộp pháo hoa nổ với tổng khối lượng 29,5kg về cho bị cáo S, đến đường ĐT741 thuộc khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an huyện P phát hiện bắt quả tang. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

[4] Hành vi của bị cáo Huỳnh Ngọc S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, đến chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm cụ thể là pháo hoa nổ. Về nhận thức, bị cáo biết rõ pháo hoa nổ là loại hàng hoá nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ và sử dụng, nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã tàng trữ 20 hộp pháo hoa nổ với tổng khối lượng 29,5kg đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Như vậy, Cáo trạng số 67/CT-VKSPG ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc S về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[6] Tội phạm do bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, đến chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.

[7] Xét mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Huỳnh Ngọc S là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh thu giữ của Huỳnh Ngọc S, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 22,125kg được niêm phong trong 01 thùng carton có chữ ký của Bồ TĐỗ Minh Q, có dấu mộc đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, đây là vật cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135, Điều 136, Điều 326, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc S số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.

  1. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh của Huỳnh Ngọc S. (Trong 01(một) túi được niêm phong có mộc dấu của Phòng K Công an tỉnh B và họ tên chữ ký của Thái Minh S3, Hồ Sỹ N)
  • (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương).
  • Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 22,125kg được niêm phong trong 01 thùng carton có chữ ký của Bồ TĐỗ Minh Q, có dấu mộc đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện đang bảo quản tại kho -VKĐ, Phòng Kỹ thuật, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh B theo Biên bản giao nhận đạn dược ngày 06/02/2024.
  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc: Bị cáo Huỳnh Ngọc S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - VKSND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; (1)
  • - PV06 Công an tỉnh Bình Dương; (1)
  • - VKSND huyện Phú Giáo; (1)
  • - Công an huyện Phú Giáo; (2)
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; (1)
  • - Những người tham gia tố tụng; (6)
  • - Lưu hồ sơ, VP. (2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Quế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Ngọc S phạm tội "Tàng trữ hàng cấm"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger