TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HS-PT
Ngày: 20-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Nhật Duật và ông Đinh Hải Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Hoa- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 91/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Trung H và bị cáo Lương Ngọc T do có kháng cáo của bị cáo Phạm Trung H và bị cáo Lương Ngọc T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Phạm Trung H, sinh ngày 04/4/1991 tại Đ (nay là thành phố Đ) Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu V, phường M, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Trần Thị H1; có một con (sinh năm 2011); tiền sự: không;
Tiền án: ngày 04/4/2013 bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) Đông Triều xử phạt 18 tháng tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2014 (chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự).
Nhân thân:
- Năm 2005, bị Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Đông Triều áp dụng biện pháp hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng.
- Ngày 18/3/2008, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) Đông Triều xử phạt 30 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Ngày 07/5/2010 chấp hành xong Bản án.
- Ngày 05/02/2012, bị Công an huyện (nay là thành phố) Đông Triều xử phạt hành chính về hành vi "Tàng trữ trái phép vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ". Ngày 15/12/2012 chấp hành xong.
- Ngày 26/12/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều xử phạt 42 tháng tù về tội "Môi giới mại dâm". Ngày 29/10/2019 chấp hành xong Bản án.
- Ngày 23/7/2024 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Bị cáo bị bắt từ ngày 10/9/2023; bị tạm giam từ ngày 20/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Họ và tên: Lương Ngọc T, sinh ngày 03/02/1989, tại K, Hải Dương; nơi cư trú: khu A, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Đắc T1 và bà Nguyễn Thị V; có vợ là Phạm Thị N1 (đã ly hôn) và hai con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Năm 2009 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh H áp dục biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc (thời hạn 24 tháng).
- Ngày 10/4/2013, bị Công an huyện (nay là thị xã K), tỉnh Hải Dương xử phạt hành chính về hành vi "Đánh bạc". Chấp hành xong ngày 03/6/2013.
- Ngày 02/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Chấp hành xong ngày 18/01/2020.
- Ngày 23/7/2024 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Bị bắt từ ngày 10/9/2023; bị tạm giam từ ngày 20/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:
Họ và tên: Lê Trung H2, sinh ngày 12/10/1987, tại Đ, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu V, phường M, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B và bà Cung Thị H3; có vợ là Cao Thu H4 và một con (sinh năm 2014); tiền sự: không; tiền án: không.
Bị bắt từ ngày 10/9/2023; bị tạm giam từ ngày 20/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức K, anh Phạm Quang T2 và bà Trần Thị H1, vắng mặt; chị Dương Thị Thùy L có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Hà Văn H5 và ông Trần Văn Q, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Trung H là em ruột của anh Phạm Quang T2, đồng thời Phạm Trung H có quan hệ xã hội với Lê Trung H2, Lương Ngọc T. Do anh T2 thường xuyên đi làm văng nhà nên Phạm Trung H và chị Dương Thị Thùy L (là người yêu của Phạm Trung H) thường đến ở và sinh hoạt tại nhà của anh T2. Trong các ngày 09/9/2023 và ngày 10/9/2023 tại nhà anh T2 (nơi Phạm Trung H ở), thì Phạm Trung H cùng với Lương Ngọc T, Lê Trung H2 đã hai lần cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể:
* Lần thứ nhất:
Khoảng 22 giờ ngày 09/9/2023, Phạm Trung H, Lê Trung H2, anh T2 và chị L đang cùng nhau uống bia (tại nhà anh T2) thì Phạm Trung H điện thoại di động mời Lương Ngọc T đến để uống bia, T đồng ý rồi lấy xe mô tô đi đến nhà anh T2.
Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đến thì Lê Trung H2 ra mở cửa cho T. Lúc này mọi người đã uống bia xong, anh T2 không có ở nhà, còn chị L đã đi ngủ ở phòng giáp với phòng khách. Tại đây, Phạm Trung H rủ T vào phòng ngủ liền kề với phòng ngủ của chị L và giáp với gian bếp của nhà anh T2 để cùng sử dụng ma túy thì T đồng ý. Khi cả hai đi vào trong phòng thì T thấy Phạm Trung H đã để sẵn trên nền phòng ngủ một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: Chai nhựa có nước, cóong thủy tinh, ống hút nhựa, bật lửa, đầu đốt bằng kim loại. Thấy vậy, T ngồi xuống đồng thời lấy túi ma túy vừa mua được trước đó ra, cắt vát ống hút nhựa rồi dùng lấy một phần ma túy trong túi cho vào cóong thủy tinh pha chế và dùng bật lửa đốt cháy bầu cóong để ma túy bốc khói và T dùng ống hút bằng hình thức “hút” qua đường miệng. Sau khi sử dụng xong, T đưa ống hút và bật châm lửa để cho Phạm Trung H sử dụng ma túy. Tuy nhiên, lúc này Lê Trung H2 ra mở và đóng cổng xong đi vào rồi chủ động ngồi xuống nền phòng cạnh T nên T tiếp tục đưa ống hút và bật châm lửa để cho Lê Trung H2 sử dụng, Lê Trung H2 sử dụng ma túy xong thì đưa ống hút, châm lửa cho Phạm Trung H và T sử dụng. Sau đó việc chuyền tay nhau ống hút, bật châm lửa đốt để cùng nhau sử dụng ma túy bằng hình thức “hút” qua đường miệng diễn ra xoay vòng giữa Phạm Trung H, Lê Trung H2 và T được khoảng ba đến bốn lần thì cả nhóm không sử dụng ma túy nữa mà ngồi nói chuyện, phần ma túy còn lại trong túi nilon T để dưới nền phòng. Sau đó T lên giường nằm ngủ, Lê Trung H2 đi ra phòng khách nằm chơi điện thoại còn Phạm Trung H ngồi một mình dưới nên phòng.
* Lần thứ hai:
Khoảng 04 giờ ngày 10/9/2023, anh Nguyễn Đức K (trú tại: tổ A, khu D, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh) có quen biết xã hội với Phạm Trung H, nhắn tin qua ứng dụng Zalo hỏi mua một gam ma túy, loại Methamphetamine thì Phạm Trung H đồng ý và thỏa thuận giá là 1.800.000 đồng, đồng thời hẹn anh K đến nhà anh T2 (anh trai H) để giao dịch mua bán ma túy. Thỏa thuận xong, Phạm Trung H đặt vấn đề rồi nhờ T mua hộ một gam ma túy để bán cho anh K, thì T đồng ý. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, anh K đến nhà anh T2 thì Phạm Trung H bào Lê Trung H2 ra mở cửa, khi anh K đi vào trong nhà, thì Phạm Trung H dẫn anh K đi vào phòng ngủ giáp với bếp ăn và bảo anh K ngồi xuống nền nhà để sử dụng ma túy cùng. Lúc này, Phạm Trung H lấy phần ma túy còn lại của T để ở nền nhà rồi cho vào coóng thủy tinh pha chế, bật châm lừa đốt, rồi cầm ống hút mời anh K sử dụng, thì Lê Trung H2 ra mở và đóng cổng cửa xong đi vào cũng ngồi xuống nền phòng bên cạnh anh K, thấy Phạm Trung H và anh K đang sử dụng ma túy thì Lê Trung H2 tự cầm ống hút, bật châm lửa để sử dụng ma túy, sau đó đưa ống hút cho Phạm Trung H và châm lửa mời Phạm Trung H và anh K sử dụng. Việc chuyền tay nhau ống hút, bật châm lửa đốt để cùng nhau sử dụng ma túy bằng hình thức “hút” qua đường miệng diễn ra xoay vòng giữa Phạm Trung H, Lê Trung H2 và anh K được khoảng hai đến ba lần/1 người thì hết ma túy.
Lúc này T đang nằm trên giường cách chỗ Phạm Trung Hiếu cùng mọi người tổ chức sử dụng ma túy khoảng 02 mét xem điện thoại thì nhận được tin nhắn của Phạm Trung H hỏi T “Có lấy được ma túy không?” thì T nhắn tin trả lời “Gọi điện nhưng người ta không nghe máy, nên không mua được”. Sau khi nhận được tin nhắn của T thì Phạm Trung H đứng dậy đi ra chiếc tủ sắt đặt cách vị trí ngồi sử dụng ma túy khoảng 0,5mét, lấy từ trong tủ ra một khẩu súng ngắn, dạng ổ xoay, mầu xám cho mọi người xem và nói với anh K “Có lấy không?”, đồng thời bảo xem ai có nhu cầu mua thì giới thiệu bán hộ, rồi Phạm Trung H để khẩu súng này xuống nền nhà.
Đến khoảng 09 giờ cùng ngày Phạm Trung H bào T điều khiển xe mô tô chở về nhà bà Trần Thị H1 (mẹ đẻ của H), ở tổ A, khu V, phường M, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều để H lấy xe mô tô. Sau đó, H và T mỗi người điều khiển một xe mô tô đi sang khu vực T, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Khi đi, H không nói cho T biết mục đích sang bên thị xã K. Khi sang đến khu T, phường M, thị xã K thì Phạm Trung H bào T ngồi chờ ở một quán nước, còn H một mình điều khiển xe mô tô đi, khoảng 30 phút sau thì quay lại quán nước gặp T rồi cả hai điều khiển xe mô tô đi về nhà bà H1 để H cất xe mô tô. Cất xe xong, T tiếp tục điều khiển xe mô tô chở H đi mua hai thẻ nạp tiền điện thoại, rồi chờ H quay về nhà anh T2.
Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi T vừa chở H về đến cổng nhà anh T2, thì bị Tổ tuần tra Công an thị xã (nay là thành phố) Đông Triều yêu cầu dừng xe để kiểm tra, thấy vậy Phạm Trung H ném từ tay xuống nền đất túi nilon bên trong chứa chất ma túy và hai thẻ nạp tiền điện thoại cách vị trí H đứng lần lượt khoảng 1,16m và 0,65m, thì bị C (nay là thành phố) Đông Triều phát hiện, bắt, thu giữ túi nilon chứa chất ma túy và hai chiếc thẻ nạp tiền điện thoại.
Ngoài ra còn thu giữ: của Phạm Trung H một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9 Pro và 100.000 đồng; của Lương Ngọc T một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu đen, một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha gắn biển kiểm soát 34D1-311.37.
- Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Trung H (tại nhà anh T2) thu giữ:
- Tại mặt kệ gỗ trong phòng khách một viên đạn màu vàng đen dài khoảng 2,3cm; một viên đạn màu vàng đen dài khoảng 1,7cm;
- Tại nền phòng ngủ liền kề bếp nấu ăn: một khẩu sung ngắn, màu xám dài khoảng 16,5cm, trên súng có chữ và số: “XYL230213709”; “357MAG” kèm theo là một bao da màu đen; một bộ đồ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 coóng thủy tinh còn bám dính chất tinh thể màu đen, 01 bật lửa gas màu xanh và 01 đầu đốt bằng kim loại);
- T3 trong tủ gỗ đặt trong phòng ngủ: một hộp giấy bên trong có nhiều linh kiện màu đen và xám trong đó có một linh kiện màu xám ghi chữ “ZP5”, một linh kiện ghi chữ “SF OPNE"; một linh kiện ghi chữ “SMITH & WESSON”; một linh kiện ghi chữ "XYL230526465”. Một hộp màu đen đặt trong khay nhựa màu đỏ năm vỏ túi nilon màu trắng kích thước đều khoảng (02 x 02)cm; một túi nilon kích thước khoảng (03 x 2,8)cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng; một ống hút màu da cam dài khoảng 8,1cm; một ống hút màu đen (một đầu được cắt nhọn) dài khoảng 8,3cm có bám dính chất tinh thể màu trắng. Tại mặt ngoài của khay nhựa màu đỏ một cuộn dây màu đồng dài khoảng 6,4cm và một mảnh giấy ráp kích thước khoảng (10,2 x 7,4)cm;
- Thu tại gầm giường một khay nhựa hình tròn, đường kính khoảng 23,5cm, trong khay nhựa có chất tinh thể màu trắng.
- Thu giữ tại nơi ở của Lương Ngọc T:
- Trên mặt đệm tại phòng ngủ tầng 2 (phòng đầu tiên sát cầu thang): một túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (02 x 02)cm chứa chất tinh thể màu trắng; Trên mặt chiếu tre trải giữa phòng ngủ đầu tiên sát cầu thang một túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (04 x 04)cm bám dính chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ một số linh kiện hình trụ liên quan đến việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
- Tại các Bản kết luận giám định số 1347 ngày 18/9/2023; số 1348 ngày 18/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q và số 8854 ngày 08/12/2023 của V1 Bộ C1 lần lượt kết luận:
Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon kích thước (2x2,5)cm (ký hiệu M1) ghi thu của Phạm Trung H (trong biên bản bắt người phạm tội quả tang); chất màu trắng dạng vết dính trong túi nilon kích thước (3x3)cm, trong ống hút màu đen dài 10cm (ký hiệu M2, M3); chất tinh thể màu trắng trong túi nilon màu xanh (ký hiệu M4); một ống thủy tinh một đầu tròn uốn cong có bầu tròn, bên trong có vết màu đen (ký hiệu M5) đều ghi thu trong phòng ngủ của Phạm Trung H; chất tinh thể màu trắng trong túi nilon kích thước (2x2)cm (ký hiệu M6) và chất màu trắng dạng vết trong túi nilon kích thước (4x4)cm (ký hiệu M7), ghi thu của Lương Ngọc T. Trong đó các mẫu vật (ký hiệu M1, M2, M3, M5 và M7) là ma túy, loại Methamphetamine (M1 có khối lượng là 0,451gam; các mẫu M2, M3, M5, M7 dạng vết không xác định được khối lượng). Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong ống hút nhựa màu cam dài 8,3cm, dạng vết không xác định được khối lượng; không tìm thấy chất ma túy trong năm vỏ túi nilon kích thước (2x2)cm. Các mẫu vật (ký hiệu M4, M6) có khối lượng lần lượt 446,27gam và 0,485gam vượt quá khả năng giám định của Phòng K1 Công an tỉnh Q.
- Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong các mẫu nước tiểu ghi thu của Phạm Trung H, Lương Ngọc T, Lê Trung H2 và Nguyễn Đức K;
- Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M4) là Magie S (Mg2SO4), không tìm thấy chất ma túy;
- Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và chất Magie Sulfate (Mg2SO4) trong mẫu (ký hiệu M6), khối lượng ma túy, loại Methamphetamine là 0,004gam.
* Tại Bản kết luận giám định số 1819 ngày 26/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Trên túi nilon kích thước (2x2,5)cm, ghi thu giữ của Phạm Trung H (trong biên bản bắt người phạm tội quả tang) gửi giám định có ADN của Phạm Trung H.
Quá trình điều tra, các bị cáo Lương Ngọc T và Lê Trung H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung vụ án nêu tại Cáo trạng. Riêng bị cáo Phạm Trung H không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không thừa nhận có hành vi cung cấp địa điểm, dụng cụ pha chế để tổ chức sử dụng ma tuý cùng với Lương Ngọc T, Lê Trung H2 và anh Nguyễn Đức K và không thừa nhận túi ma tuý loại Methamphetamine khối lượng 0,451gam bị thu giữ là của mình.
Tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo Lương Ngọc T và Lê Trung H2 thay đổi lời khai so với lời khai trong quá trình điều tra. Các bị cáo khai: ngay sau khi bị bắt, các bị cáo đã bị đánh đập, ép cung, dùng nhục hình dẫn đến bị hoảng loạn, sợ hãi nên mới phải khai nhận về hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 15/8/2024, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trung H 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 10/9/2023).
- Điểm a, b khoản 2 Điều 255; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Ngọc T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 10/9/2023).
- Các điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trung H2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 10/9/2023).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/8/2024 bị cáo Lương Ngọc T làm đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại tội danh: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo vì bị cáo cho rằng Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là sai với tội danh của bị cáo.
Ngày 26/8/2024 bị cáo Phạm Trung H làm đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại tội danh: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo vì bị cáo cho rằng Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là hoàn toàn oan sai không đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Phạm Trung H bổ sung kháng cáo nội dung: ngoài kháng cáo đề nghị xem xét lại tội danh: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại cả tội danh: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo, vì bị cáo không tàng trữ ma tuý nên cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội danh này là không đúng, oan cho bị cáo;
- Bị cáo Lương Ngọc T thay đổi nội dung kháng cáo: bị cáo không kháng cáo kêu oan nữa mà kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, vì bị cáo thấy cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, nhưng mức hình phạt là quá nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Trung H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Phạm Trung H. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Trung H 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều buộc bị cáo Phạm Trung H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 10/9/2023).
- Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo theo nội dung thay đổi kháng cáo tại phiên toà của bị cáo Lương Ngọc T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Lương Ngọc T. Áp dụng: các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Ngọc T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp với hình phạt 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều buộc bị cáo Lương Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 10/9/2023).
Lời nói sau cùng: bị cáo Phạm Trung H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội danh: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo; bị cáo Lương Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Trung H và bị cáo Lương Ngọc T làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Nội dung bổ sung kháng cáo của bị cáo Phạm Trung H và nội dung thay đổi kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc T tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với khoản 1 Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về tội danh:
Quá trình điều tra, các bị cáo Lương Ngọc T và Lê Trung H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung vụ án nêu tại Cáo trạng. Riêng bị cáo Phạm Trung H không thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo Lương Ngọc T và Lê Trung H2 thay đổi lời khai so với lời khai trong quá trình điều tra. Các bị cáo khai: ngay sau khi bị bắt, các bị cáo đã bị đánh đập, ép cung, dùng nhục hình dẫn đến bị hoảng loạn, sợ hãi nên mới phải khai nhận về hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra.
Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo Lương Ngọc T và Lê Trung H2 lại thay đổi lời khai so với lời khai tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình cơ bản như nội dung vụ án đã nêu.
Do vậy để chứng minh các bị cáo có phạm tội như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo và như bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo hay không cần xem xét các tài liệu, chứng cứ sau:
- Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Lương Ngọc T khai: tối 09/9/2023, tại phòng ngủ thứ hai phía trong của nhà anh trai bị cáo Phạm Trung H, bị cáo T đã bỏ gói ma tuý mua từ trước ra cùng với Phạm trung H sử dụng bằng bộ dụng cụ có sẵn trong phòng bằng cách dùng bật lừa hơ nóng rồi hút qua đường miệng, ngay sau đó có Lê Trung H2 là bạn của Phạm Trung H đi vào ngồi xuống cùng sử dụng ma tuý với bị cáo và Phạm Trung H, các bị cáo thay nhau châm lửa và cùng mời nhau sử dụng ma tuý, sử dụng được một lúc thì bị cáo lên giường nằm nghỉ, còn Phạm Trung H vẫn ngồi dưới nền nhà, Lê Trung H2 ra ngoài phòng khách; số ma tuý bị cáo bỏ ra cho cả bọn sử dụng, bị cáo không để ý đã dùng hết hay chưa. Đến sáng ngày 10/9/2023, có anh Nguyễn Đức K là bạn của Phạm Trung H đến thì bị cáo thấy Phạm Trung H cùng anh K và Lê Trung H2 ngồi dưới nền nhà cách giường bị cáo nằm khoảng gần 02 mét, lúc này bị cáo đang mải xem điện thoại nên không để ý bọn H2 có sử dụng ma tuý hay không, riêng bị cáo lúc này không sử dụng ma tuý, cũng tại thời điểm này bị cáo nhận được tin nhắn của Phạm Trung H hỏi có lấy được ma túy không thì bị cáo nhắn trả lời đã gọi điện nhưng người ta không nghe máy, nên không mua được. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày thì Phạm Trung H bào bị cáo chở H đến nhà mẹ H lấy xe máy, sau đó mỗi người một xe đi sang thị xã K, khi sang đến khu T, phường M, thị xã K thì Phạm Trung H bảo bị cáo ngồi chờ ở một quán nước, còn H một mình điều khiển xe mô tô đi, khoảng 30 phút sau thì quay lại quán nước rồi bào bị cáo đi theo H về nhà mẹ H để cất một xe. Cất xe xong, bị cáo tiếp tục điều khiển xe chở H đi mua thẻ nạp tiền điện thoại, rồi chờ H quay về nhà anh T2. Khi bị cáo chờ H về đến cổng nhà anh T2, thì bị Công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra, do bị cáo cầm lái, H ngồi sau nên bị cáo không xác định được túi ma tuý vứt dưới đất gần chỗ bị cáo và H đứng là của ai, quá trình kiểm tra bị cáo và H cũng không ai động vào túi nilon đựng ma tuý đó. Việc H rù bị cáo sang K không nói là đi có việc gì, nhưng bị cáo nghĩ là T sang K để mua ma tuý.
Ngoài ra bị cáo T còn khai: lý do tại phiên toà sơ thẩm bị cáo không nhận tội là do bị cáo suy nghĩ chưa thấu đáo, việc tại cấp sơ thẩm bị cáo khai bị Cơ quan điều tra đánh đập nên bị cáo phải khai theo sự mớm, ép cung là không đúng, sự thật là bị cáo có bị cán bộ điều tra đánh nhưng chỉ đánh lúc ban đầu khi bị cáo khai báo quanh co, khi bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình thì không bị ai đánh đập nữa. Việc bị cáo bị đánh là nhẹ và không để lại thương tích gì. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên bị cáo xin thay đổi nội dung kháng cáo: không kêu oan mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo khẳng định bị cáo không có mâu thuẫn gì với Phạm Trung H và khẳng định lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm là đúng, bị cáo xin chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về lời khai tại phiên toà phúc thẩm của mình.
- Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Trung H2 khai: tại phiên toà sơ thẩm bị cáo khai quá trình điều tra bị đánh đập, ép cung nên phải khai hành vi phạm tội của mình theo sự mớm cung của cán bộ điều tra là khai không đúng sự thật vì lúc đó suy nghĩ chưa thấu đáo, còn muốn chối tội. Tuy nhiên khi bị Toà sơ thẩm tuyên phạt 07 năm 06 tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” cùng với bọn H2 và T, thì bị cáo thấy Toà sơ thẩm đã xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan nên bị cáo không làm đơn kháng cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Lê Trung H2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và đồng bọn như nội dung lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra. Bị cáo khẳng định lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm là không đúng, lời khai tại phiên toà phúc thẩm và tại Cơ quan điều tra của bị cáo là đúng sự thật, nội dung vụ án được ghi lại trong Cáo trạng là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo xin chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về lời khai tại phiên toà phúc thẩm và tại Cơ quan điều tra của mình.
- Cũng tại phiên toà phúc thẩm khi đối chất với bị cáo Phạm Trung H thì bị cáo T và bị cáo Lê Trung H2 vẫn khai khẳng định hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như hành vi phạm tội của Phạm Trung H như nội dung đã khai ở trên.
- Tại Cơ quan điều tra, người làm chứng Nguyễn Đức K có lời khai cơ bản phù hợp với lời khai của Lương Ngọc T và Lê Trung H2, cụ thể: sáng ngày 10/9/2023, H2 gọi qua Z rủ anh đến nhà anh T2 chơi và cùng sử dụng ma túy đá với H2. Sau đó, anh đi một mình đến nhà anh T2 rồi gọi cổng, H2 đi ra cửa nhà và bảo một người bạn (sau này anh biết tên là Lê Trung H2) ra mở cổng cho anh vào. Khi anh vào nhà thì Lê Trung H2 khóa cổng lại ngay. H2 dẫn anh vào phòng ngủ thứ 2 cạnh bếp thì anh thấy T đang nằm trên giường, trên nền phòng có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: coóng thủy tinh bên trong vẫn còn một ít ma túy đá, chai nhựa có nước, ống hút nhựa, đầu đốt, bật lửa.... Lúc này, T nằm trên giường, Lê Trung H2 cũng đi vào giường nằm cùng T. H2 ngồi xuống nền đất sát tường (đối diện cửa đi xuống bếp) và bảo anh “ngồi đây chơi”. Anh hiểu ý H2 muốn mời anh ngồi xuống cùng sử dụng ma túy đá nên đồng ý và ngồi dối diện. H2 dùng một mẩu giấy bạc và chiếc ống hút nhựa màu đen để xúc ma túy từ trong túi nilon rồi cho vào coóng thủy tinh, sau đó châm lửa đốt và cầm ống hút mời anh sử dụng. Anh cầm ống hút nhựa do H2 đưa rồi hít vài hơi, sau đó đặt bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra nền nhà trước mặt. Một lúc sau, Lê Trung H2 nằm trên giường cũng xuống ngồi cùng anh và H2 rồi tự châm lửa, hít khoảng hai, ba hơi ma túy đá vào miệng qua ống hút. Sử dụng ma túy xong, Lê Trung H2 lại đưa ống hút và châm lửa cho H2 sử dụng. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H2 bảo anh và Lê Trung H2 “Ở đây chơi nhé, em đi có tí việc một lúc” rồi sau đó H2 và T đi ra khỏi nhà. Anh và Lê Trung H2 ngồi chơi, đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày thì Công an đến khám xét, thu giữ khẩu súng và các dụng cụ sử dụng ma túy cùng một số đồ vật khác có liên quan rồi mời mọi người về trụ sở làm việc.
- Sau khi nghe Chủ toạ công bố lời khai của anh Nguyễn Đức K, các bị cáo Lương Ngọc T và Lê Trung H2 khẳng định lời khai của anh K là đúng sự việc đã xảy ra tại nhà anh T2 vào sáng ngày 10/9/2023, riêng bị cáo Phạm Trung H phủ nhận lời khai của anh K và phủ nhận lời khai của bị cáo T và bị cáo Lê Trung H2 với lý do lời khai của T và Lê Trung H2 mỗi lúc khai một kiểu nên không thể tin tưởng được.
- Người làm chứng chị Dương Thị Thùy L có lời khai trong quá trình điều tra như sau: vào khoảng 21 giờ ngày 09/9/2023 chị cùng với Phạm Trung H, anh T2 và Lê Trung H2 cùng ăn, uống bia tại phòng khách của nhà anh T2 (số E, tổ A, khu V, phường M). Đến khoảng 22 giờ thì chị đi vào phòng ngủ thứ nhất để ngủ, anh T2 đi đâu chị không rõ. Còn Phạm Trung H và Lê Trung H2 vào phòng ngủ thứ hai để nói chuyện, chị đi ngủ trước nên họ làm gì chị không biết. Đến khoảng 09 giờ sáng ngày 10/9/2023 thì chị dậy, khi đi vệ sinh thì chị thấy Phạm Trung H, Lê Trung H2 và Lương Ngọc T đang ngủ ở phòng ngủ thứ hai. Sau đó chị khóa cửa, ném chìa khóa vào bên trong để mọi người có chìa khóa mở, rồi đi về nhà bà H1 chuẩn bị nấu cơm. Tại phiên toà phúc thẩm chị L khai tối hôm 09/9/2023 Phạm Trung H ngủ chung với chị tại phòng ngủ thứ nhất.
Tại phiên toà phúc thẩm người làm chứng chị Dương Thị Thùy L khai: tối hôm 09/9/2023 sau khi uống bia thì chị và bị cáo Phạm Trung H đã cùng nhau vào phòng thứ nhất để ngủ, chứ bị cáo H không ở cùng phòng với T và Lê Trung H2.
Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai tại phiên toà phúc thẩm của chị L là không phù hợp với lời khai của chị L tại Cơ quan điều tra và không phù hợp với lời khai của các bị cáo Lương Ngọc T, Lê Trung H2 và không phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do đó xác định lời khai của chị L tại phiên toà phúc thầm là không khách quan nên không được chấp nhận.
- Những người chứng kiến là ông Hà Văn H5 và ông Trần Văn Q đều có lời khai tại Cơ quan điều tra: khoảng 10 giờ 25 phút ngày 10/9/2023, các ông được lực lượng Công an mời đến đoạn đường dân sinh trước cổng số nhà E, tổ A, khu V, phường M, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều để chứng kiến sự việc Công an thị xã (nay là thành phố) Đông Triều bắt quả tang người có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại chỗ, các ông thấy hai người nam thanh niên đứng cạnh xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, gắn BKS: 34D1-311.37, một người khai nhận trước đó đã điều khiển xe, tên là Lương Ngọc T; người còn lại khai nhận trước đó ngồi sau xe mô tô, tên là Phạm Trung H (thường gọi là Hiếu Ngà). Công an phát hiện và thu giữ trên nền đất cách vị trí H đứng 1,16m có một túi nilon kích thước khoảng (02x2,5)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy.... Sau đó, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật, đưa những người bị bắt về trụ sở làm việc. Từ khi được mời chứng kiến sự việc, các ông thấy lực lượng Công an làm việc công khai, minh bạch, rõ ràng, khách quan, ghi nhận đúng sự thật và thể hiện chính xác vào biên bản, niêm phong đồ vật thu giữ theo đúng quy định. Quá trình làm việc, công an không đánh đập, ép buộc, đe dọa, xúc phạm gì đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của T và H.
- Tại Bản kết luận giám định số 1348 ngày 18/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong các mẫu nước tiểu ghi thu của Phạm Trung H, Lương Ngọc T, Lê Trung H2 và Nguyễn Đức K.
- Tại Bản kết luận giám định số 1347/KL-KTHS ngày 18/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon kích thước (2x2,5)cm (ghi thu của Phạm Trung H trong biên bản bắt người phạm tội quả tang); là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,451gam.
- Tại Bản kết luận giám định số 1819 ngày 26/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Trên túi nilon kích thước (2x2,5)cm, (ghi thu giữ của Phạm Trung H trong biên bản bắt người phạm tội quả tang) gửi giám định có ADN của Phạm Trung H.
- Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phạm Trung H vẫn không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo cho rằng các bị cáo T, Lê Trung H2 và anh K đã khai không đúng sự thật, vu oan cho bị cáo, việc Cơ quan điều tra lấy mẫu AND của bị cáo để giám định là không khách quan, do đó bị cáo khẳng định bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là không đúng, oan cho bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
Như vật, từ các tài liệu, chứng cứ đã được viện dẫn ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: lời khai tại phiên toà phúc thẩm của các bị cáo Lương Ngọc T và Lê Trung H2 là tự nguyện và khách quan, bởi lẽ lời khai tại phiên toà phúc thẩm của các bị cáo này cơ bản phù hợp với lời khai của chính các bị cáo tại Cơ quan điều tra, cơ bản phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra của anh Nguyễn Đức K và chị Dương Thị Thùy L, do đó đủ cơ sở xác định các lời khai tại phiên toà phúc thẩm của T và Lê Trung H2 là đúng sự thật, phù hợp với nội dung vụ án; từ các tài liệu, chứng cứ và sự phân tích trên có đủ cơ sở khẳng định lời khai của bị cáo Phạm Trung H cho rằng mình không phạm tội, cho rằng bị ép cung, nhục hình, cho rằng Cơ quan điều tra lấy mẫu giám định ADN của bị cáo không khách quan, là không có căn cứ và không đúng, bị cáo khai như vậy mục đích để nhằm trốn tránh trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình.
Ngoài ra lời khai của các bị cáo Lương Ngọc T và Lê Trung H2 còn phù hợp với lời khai của những người làm chứng khác và phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do C (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 10/9/2023; phù hợp với các Bản kết luận giám định số 1347 ngày 18/9/2023, số 1348 ngày 18/9/2023, số 1819 ngày 26/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q và số 8854 ngày 08/12/2023 của V1 Bộ C1; phù hợp với các Biên bản xác định hiện trường, các Bản ảnh kèm theo biên bản xác định hiện trường, các Sơ đồ hiện trường, Biên bản kiểm tra thông tin trên các điện thoại di động và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó mặc dù bị cáo Phạm Trung H không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng với các tài liệu, chứng cứ và sự phân tích trên đủ cơ sở để kết luận:
- Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/9/2023, tại số nhà E tổ A, khu V, phường M, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Phạm Trung H đã có hành vi cung cấp địa điểm, bộ đồ sử dụng ma túy, còn Lương Ngọc T cung cấp ma túy để Phạm Trung H, Lê Trung H2 và T có hành vi cùng nhau pha chế rồi lần lượt chuyền tay nhau sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức “Hút” qua đường miệng.
- Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 10/9/2023, cũng tại địa điểm nêu trên, Phạm Trung H, Lê Trung H2 tiếp tục có hành vi pha chế, chuyền tay nhau sử dụng trái phép chất ma túy (Ma tuý do T mang đến sử dụng từ tối hôm trước chưa hết), đồng thời còn cung cấp trái phép chất ma túy cho anh Nguyễn Đức K sử dụng.
- Vào khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày 10/9/2023, tại tổ A, khu V, phường M, thị xã Đ (nay là thành phố Đ) tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Phạm Trung H có hành vi tàng trữ trái phép 0,451gam ma túy loại Methamphetamine, thì bị C (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh phát hiện, bắt, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Trung H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Hành vi của các bị cáo Lương Ngọc T và Lê Trung H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Do đó, thấy rằng có đủ cơ sở kết luận Toà án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Trung H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và xét xử các bị cáo Lương Ngọc T và Lê Trung H2 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Trung H về tội danh:
Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng Toà án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Trung H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng, không oan, do đó không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại tội danh của bị cáo Phạm Trung H được.
[2.3] Xét kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc T về hình phạt:
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Lương Ngọc T thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và của đồng phạm, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo T khi lượng hình, do đó có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T.
[3] Nội dung khác:
- Đối với bị cáo Lê Trung H2: mặc dù bị cáo Lê Trung H2 không kháng cáo kêu oan hay kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại phiên toà phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và của đồng phạm, do đó cần áp dụng cho bị cáo Lê Trung H2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Lê Trung H2 để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
- Ngày 23/7/2024, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST, Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã xử phạt bị cáo Phạm Trung H 24 tháng tù và xử phạt bị cáo Lương Ngọc T 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Đến nay Bản án trên đã có hiệu lực pháp luật. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, Toà án cấp phúc thẩm sẽ tổng hợp hình phạt bản án của ngày hôm nay với hình phạt Bản án số 62/2024/HS-ST theo đúng quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: do kháng cáo của bị cáo Phạm Trung H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Trung H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Phạm Trung H.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Trung H 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều buộc bị cáo Phạm Trung H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 10/9/2023).
- Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Lương Ngọc T.
Áp dụng: các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lương Ngọc T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp với hình phạt 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Toà án nhân dân thị xã Đông Triều (nay là thành phố Đ) buộc bị cáo Lương Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 10/9/2023).
- Căn cứ: Điều 345; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Lê Trung H2.
Áp dụng: các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Trung H2 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 10/9/2023).
- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Trung H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Lương Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Đinh Hải Toản - Nguyễn Nhật Duật | Phạm Duy Hải |
Bản án số 77/2024/HS-PT ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 77/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cáo Phạm Trung Hiếu 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù.
