|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/10/2024
V/v: “Xin ly hôn và nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Rạng Đông;
Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp không tham gia.
Trong ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 193/QĐST-HNGĐ ngày 27/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Hoàng Y, sinh năm: 1995 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: A N, phường A, thành phố R, Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Trần Vũ K, sinh năm: 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố D, phường A, thành phố P, Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lý Hoàng Y trình bày:
Vào năm 2017 chị và anh Trần Vũ K tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện C, Kiên Giang vào ngày 13/5/2021. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 12 năm 2022 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về tình cảm, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có tiếng nói chung thường hay cự cãi nhau.
Nay chị nhận thấy không thể nào chung sống với nhau được nữa, chị và anh K đã ly thân từ tháng 4 năm 2023, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Vũ K.
- Về con chung: Có một người con chung Trần Đăng K1, sinh ngày 07/11/2021 chị Y có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Vũ K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân, con chung như chị Lý Hoàng Y trình bày. Trong quá trình chung sống vợ chồng không mâu thuẫn gì, nhưng từ khi chị Y bỏ nhà đi thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung cùng nhau, khi anh muốn thăm con nhưng chị Y không cho, chị Y vi phạm về vấn đề thăm nom, chăm sóc con chung, chị Y chặn tất cả các cuộc gọi, mạng xã hội, địa chỉ nên anh không thể liên lạc với chị Y để thăm con được. Anh xét thấy có sống chung cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau, nên anh đồng ý ly hôn với chị Lý Hoàng Y.
- Về con chung: Có một người con chung Trần Đăng K1, sinh ngày 07/11/2021 anh K yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị Y cấp dưỡng con chung.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Tại thời điểm chị L Hoàng Yến khởi kiện, bị đơn anh Trần Vũ K có nơi cư trú tại thành phố P, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lý Hoàng Y có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Lý Hoàng Y, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Trần Vũ K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Trần Vũ K, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia, theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2017 chị Lý Hoàng Y và anh Trần Vũ K tìm hiểu, tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn ngày 13/5/2021 tại UBND thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng chị Y và anh K bất đồng ý kiến với nhau trong cuộc sống, thường xảy ra mâu thuẫn, làm cho tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị Y và anh K không còn sống chung với nhau từ năm 2023.
Xét thấy, chị Y và anh K không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, nên đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Y và anh K tự nguyện ly hôn. Nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lý Hoàng Y và anh Trần Vũ K.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Trần Đăng K1, sinh ngày 07/11/2021. Cả chị Y và anh K đều có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con. Thấy rằng, hiện nay cháu Trần Đăng K1 đang sống chung với chị Y, và chưa đủ 36 tháng tuổi. Xét thấy, để không làm thay đổi cuộc sống hiện tại và sự phát triển về mọi mặt của cháu Trần Đăng K1, nên chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung của chị Y, là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Chị Y không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con. Nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Do chị Lý Hoàng Y và anh Trần Vũ K thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa, nên chị Lý Hoàng Y và anh Trần Vũ K mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí không giá ngạch.
Chị Lý Hoàng Y được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng. Nên chị Y được hoàn trả lại số tiền 525.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 9, 51, 55, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Hoàng Y đối với anh Trần Vũ K về việc xin ly hôn và nuôi con chung.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lý Hoàng Y với anh Trần Vũ K.
[2]. Về con chung: Giao con chung Trần Đăng K1, sinh ngày 07/11/2021, cho chị L Hoàng Y tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Lý Hoàng Y không yêu cầu, nên anh Trần Vũ K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Không bên nào được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
[3]. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4]. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5]. Về án phí:
- Chị Lý Hoàng Y phải chịu án phí thuận tình ly hôn 75.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004224 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc. Nên chị Lý Hoàng Y được hoàn trả lại số tiền 525.000 đồng (năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- Buộc anh Trần Vũ K phải chịu án phí thuận tình ly hôn 75.000 đồng (bảy mươi lăm nghìn đồng).
[6]. Về quyền kháng cáo: Chị Lý Hoàng Y và anh Trần Vũ K vắng mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Quách Văn Khánh |
Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
