|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02-7-2024 V/v “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Khắc Hiệp.
- Ông Lê Văn Tài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quí – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp TH, xã TH, huyện P, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Đỗ Văn N, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp XThI, xã TT, huyện P, tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú: ấp QK, xã QĐ, huyện P, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:
Vào năm 2007 chị với anh N tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện P, được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 28/03/2007. Hôn nhân tự nguyện. Chị với anh N có 02 con chung tên Đỗ Thị Tú, sinh ngày 03/01/2008 và Đỗ Hoàng H, sinh ngày 18/11/2015. Hiện đang sống chung với chị.
Về tài sản chung: Chị và anh N không có tạo lập được tài sản chung. Về nợ chung: không có.
Nguyên nhân chị yêu cầu ly hôn với anh N là do vợ chồng bất đồng quan điểm về lối sống, nhiều lần cự cải với nhau, anh N không quan tâm vợ con, anh N nói chị quan hệ tình cảm với nhiều người. Chị với anh N không còn sống chung khoảng hơn 06 năm nay. Khi chị và anh N không còn sống chung cha mẹ chị có nhiều lần hàn gắn nhưng anh N không thay đổi, còn gia đình anh N thì không có ý kiến gì. Chị với anh N có vài lần hàn gắn với nhau nhưng anh N không thay đổi nên chị với anh N không còn sống chung. Từ khi chị và anh N không còn sống chung đến nay thì con chung do chị trực tiếp nuôi, anh N ít tới lui thăm con chung, anh N có cho tiền con chung nhiều lần khoảng 10.000.000 đồng.
Nhận thấy chị với anh N không thể hàn gắn được nên chị có các yêu cầu như sau:
- - Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh N. Sau khi ly hôn chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng cho chị.
- - Về con chung: Hiện nay chị bán đồ lưu niệm ở khu du lịch biển, thu nhập khoảng 4.000.000 đồng-5.000.000 đồng/tháng, chị đủ điều kiện nuôi con chung nên chị yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Chị và anh N không có tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.
- - Về nợ chung: Chị và anh N không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Đỗ Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về trình tự thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 53, 56; Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về thẩm quyền: Bị đơn anh Đỗ Văn N cư trú tại ấp QK, xã QĐ, huyện P, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về thủ tục tố tụng:
- - Chị Phạm Thị T có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
- - Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho anh Đỗ Văn N các văn bản tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh N đều không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N.
[4] Về hôn nhân: Năm 2007 chị T và anh N tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TT, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 28/3/2007. Do đó, việc kết hôn và đăng ký kết hôn của chị T và anh N là phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nguyên nhân chị T yêu cầu ly hôn với anh N là vợ chồng bất đồng quan điểm về lối sống, nhiều lần cự cải với nhau, anh N không quan tâm vợ con, anh N nghi ngờ chị quan hệ tình cảm với nhiều người làm cho cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên từ năm 2018 đến nay chị và anh N không còn sống chung. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo, quyết định của Tòa án nhằm tạo điều kiện để chị T và anh N hòa giải với nhau nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh N đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
[5] Về con chung: Chị T và anh N có 02 con chung Đỗ Thị Tú A, sinh ngày 03/01/2008 và Đỗ Hoàng H, sinh ngày 18/11/2015. Thấy rằng, từ khi chị T và anh N không còn sống chung, chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tại biên bản lấy ý kiến, các con chung trình bày có nguyện vọng sống cùng với chị T. Lẽ đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao Đỗ Thị Tú A, sinh ngày 03/01/2008 và Đỗ Hoàng H, sinh ngày 18/11/2015 cho chị T trực tiếp nuôi là phù hợp. Do chị T không yêu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, chị T có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
[6] Về tài sản chung: Do chị T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
[7] Về nợ chung: Do chị T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị T phải nộp theo quy định của pháp luật.
[9] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 53, 56, 81, 82 và Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị T. Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Đỗ Văn N. Do chị T và anh N không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng vợ và chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
- Về con chung: Chị Phạm Thị T được trực tiếp nuôi con chung Đỗ Thị Tú A, sinh ngày 03/01/2008 và Đỗ Hoàng H, sinh ngày 18/11/2015. Do chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Anh Đỗ Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Đỗ Văn N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, chị Phạm Thị T có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Do chị Phạm Thị T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Do chị Phạm Thị T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị T phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003529 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú và đã nộp xong.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân |
Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị T yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Văn N
