TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 77/2024/DS-ST Ngày: 07-6-2024 V/v: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Phước Tâm.
- 2. Ông Nguyễn Đức Điền.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tèo - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 55/2023/TLST- DS, ngày 06 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 142/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 192/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Út E, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1976; Nguyễn Phụng Y, sinh năm 1999 và Nguyễn Thanh S, sinh năm 2008; cùng địa chỉ: Ấp A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- - Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- - Anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1977; chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1981 và Nguyễn Hoài N1, sinh năm 2001; cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/11/2022, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Út E trình bày như sau:
- - Về nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Văn N2 và bà Nguyễn Thị B (là cha mẹ của anh Nguyễn Văn Út E). Ngày 14/7/2017, anh Út E được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 1.699,0m² thuộc thửa đất số 288, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Phần đất này anh được cấp quyền sử dụng cho cá nhân, không liên quan gì đến hộ gia đình của anh.
- - Tiếp giáp với phần đất của anh Út E là đất của anh Nguyễn Văn T thuộc thửa 1705, tờ bản đồ số 4, tọa lạc xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Hai bên đã có cấm trụ đá và làm hàng rào lưới thẳng hàng, sử dụng đất không có tranh chấp gì cả, hai trụ đá hiện nay là mốc 13 và mốc 18 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023. Anh cho rằng hai trụ đá này do ông N2 và ông K (cha của anh T) xác định, anh Út E đã làm hàng rào lưới từ mốc 13 đến mốc 18 để nuôi vịt. Từ khi làm hàng rào tới nay thì không xảy ra tranh chấp gì, cho đến khi anh Út E đang có nhu cầu tách thửa đất vào năm 2022 và có nhờ cán bộ xuống đo đạc thì phía anh Nguyễn Văn T không thống nhất ranh đất, anh T không đồng ý với trụ đá và hàng rào lưới như hiện trạng. Anh T cho rằng anh Út E lấn đất của anh nên anh không đồng ý ranh đất hiện tại để đo đạc và tách thửa đất. Anh Út E cũng đã có nói chuyện, thỏa thuận với anh T nhưng không được nên đã làm đơn trình bày sự việc với địa phương để nhờ giải quyết. Buổi hòa giải ngày 08/9/2022 tại UBND xã A, anh Nguyễn Văn T có đến tham gia giải quyết, anh T cứ cho rằng đất của anh còn bên phía anh Út E 1,5m từ hàng rào lưới. Trong khi hai bên đã sử dụng đất rất lâu và không có tranh chấp gì cả, nay anh T lại nói như vậy là không hợp lý, anh Út E không đồng ý với ý kiến của anh T nên hòa giải tại địa phương không thành.
- - Anh thống nhất ranh đất từ mốc 13 đến mốc 11 nên không tranh chấp.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện anh đang quản lý, không có thế chấp cho tổ chức, cá nhân nào khác.
Nay anh Nguyễn Văn Út E yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa anh và anh T là đoạn thẳng nối giữa các mốc 11 - mốc 13 - mốc 18 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
Về giá trị đất và các tài sản có trên đất, anh thống nhất với giá do Hợp đồng định giá đã đưa ra, không có thắc mắc hay khiếu nại gì.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
- - Về nguồn gốc đất: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn K (ông K là cha của anh). Đến năm 2008, ông K tặng cho anh một phần diện tích đất thuộc thửa số 1705, tờ bản đồ số 4, tọa lạc xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và anh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 15/8/2008.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ do anh Nguyễn Văn T, tại thời điểm cấp quyền sử dụng đất thì hộ anh T gồm có vợ Nguyễn Thị N - sinh năm 1976; con Nguyễn Phụng Y - sinh năm 1999; con Nguyễn Thanh S - sinh năm 2008; ngoài ra không còn ai khác. Tuy nhiên, phần ranh giới quyền sử dụng đất đang tranh chấp thì anh xác định chỉ có một mình anh sử dụng, vợ và con của anh đều không có sử dụng đất nên anh không yêu cầu đưa vợ con của anh vào tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- - Quá trình sử dụng: Phần đất đang tranh chấp anh cho rằng trước đây là cái mương thuộc quyền sử dụng của anh, phía anh Út E bơm cát làm tràn qua phần mương của anh nên hiện trạng không còn con mương. Phần đất này anh cho rằng anh là người trực tiếp sử dụng. Đối với hai trụ đá, trụ đá tại mốc 18 do bà P trồng, trụ đá tại mốc số 13 do ông K và ông N2 trồng nhưng sau khi trồng thì trụ đá bị ngã, phía anh Út E tự động trồng lại khi không có mặt gia đình anh, do đó, anh không đồng ý hai trụ đá này. Đối với hàng rào lưới do anh Út E làm khoảng 5-6 năm nay để rào gà, vịt, anh cũng không có tranh chấp gì. Năm 2022 anh Út E yêu cầu xác định ranh đất để tách thửa nhưng anh không thống nhất nên xảy ra tranh chấp.
- - Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đo đạc thực tế, có sự chứng kiến của người giáp ranh là ông N2 và chị P. Việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh được cấp là một đường ranh thẳng từ lộ chạy dài ra sau hậu, tuy nhiên theo sơ đồ đo đạc và hiện trạng thực tế là một đường cong thì anh cũng không biết, từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay thì anh không để ý nên đã không thắc mắc hay khiếu nại gì.
- Đối với ranh giới quyền sử dụng đất giữa mốc 13 đến mốc 11 nên hai bên đã thống nhất nên không có tranh chấp.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện anh đang quản lý, không có thế chấp cho tổ chức, cá nhân nào khác.
- - Nay anh không thống nhất với yêu cầu của phía nguyên đơn, anh yêu cầu xác định ranh đất giữa hai bên là các đoạn thẳng nối giữa các mốc: mốc 11- mốc 13 - mốc 14 - mốc 15 - mốc 16 - mốc 18 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
Về giá trị đất và các tài sản có trên đất thì anh thống nhất với giá do Hợp đồng định giá đã đưa ra.
* Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án bao gồm:
- - Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp: Giấy CNQSD đất tên Nguyễn Văn Út E (bản photo); Công văn số 432/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT, ngày 10/01/2023, trích lục bản đồ địa chính (bản chính).
- - Bị đơn cung cấp các tài liệu chứng cứ: Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Nguyễn Văn T đứng tên quyền sử dụng thuộc thửa số 1705, tờ bản đồ số 4, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- - Các tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập được: Sơ đồ đo đạc, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, Công văn cung cấp thông tin của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C cùng các tài liệu đính kèm.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có kiến nghị gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa theo thủ tục chung.
- - Về việc giải quyết nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đề nghị xét xử theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Út E. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa số 288 (cấp cho ông Nguyễn Văn Út E) và thửa số 1705 (cấp cho hộ anh Nguyễn Văn T) cùng tờ bản đồ số 4, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là đoạn thẳng nối từ mốc 13 - mốc 18 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ. Tại phiên tòa, các đương sự cũng đã thống nhất đoạn thẳng nối từ mốc 11 đến mốc 13 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 là ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai bên nên đề nghị không đặt vấn đề xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Út E và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nơi cư trú của bị đơn và đối tượng đang tranh chấp có liên quan đến đất đai đều ở xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng tất cả đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- [4] Về nội dung vụ án, xét yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Út E yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa anh và anh Nguyễn Văn T là đoạn thẳng nối giữa các mốc 11 - mốc 13 - mốc 18 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ; Hội đồng xét xử nhận định:
- [5] Về nguồn gốc đất:
- [5.1] Đối với diện tích đất thuộc thửa đất số 288, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn N2 và bà Nguyễn Thị B (là cha mẹ của anh Nguyễn Văn Út E). Ngày 14/7/2017, anh Út E nhận thừa kế và tặng cho từ cha, mẹ toàn bộ diện tích đất thuộc thửa số 288 và đã được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 1.699,0m², loại đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm.
- [5.2] Đối với diện tích đất thuộc thửa số 1705, tờ bản đồ số 4, tọa lạc xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn K (ông K là cha của anh T). Đến năm 2008, ông K tặng cho anh T một phần diện tích đất 344m² loại đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm; anh T cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 15/8/2008. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ do anh Nguyễn Văn T, tại thời điểm cấp quyền sử dụng đất thì hộ anh T gồm có vợ Nguyễn Thị N - sinh năm 1976; con Nguyễn Phụng Y - sinh năm 1999; con Nguyễn Thanh S - sinh năm 2008; chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1977; chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1981 và Nguyễn Hoài N1, sinh năm 2001; ngoài ra không còn ai khác.
- [6] Căn cứ vào Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/3/2023 và Sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác lập thì các bên xác định thửa đất số 288 của anh Nguyễn Văn Ú Em hiện đang tranh chấp tại hướng Đông có một phần giáp với thửa 1705 hộ anh Nguyễn Văn T. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, phía anh Út E xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai bên là đoạn thẳng nối giữa các mốc 11 - mốc 13 - mốc 18 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ. Đối với phía anh T xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai bên là các đoạn thẳng nối giữa mốc 11 - mốc 13 - mốc 14 - mốc 15 - mốc 16 - mốc 18 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ. Do có sự khác nhau trong việc xác định ranh đất nên phần đất đang tranh chấp có diện tích là 10,7m², được xác định trong phạm vi các mốc 13 - mốc 14 - mốc 15- mốc 16 - mốc 18 của Sơ đồ đo đạc, ranh đất giữa hai bên được xác định từ mốc 11 - mốc 13 các đương sự đã thống nhất nên Hội đồng xét xử không xem xét. Qua kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các thửa đất có tranh chấp thì từ mốc 13 (trụ đá) đến mốc 18 (trụ đá) trên thực địa là hàng rào lưới tạm do anh Út E xây dựng khoảng năm 2012.
- [7] Về việc đo đạc, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cứ vào văn bản số 10417/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 13/7/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C đã thể hiện:
- [7.1] Phần diện tích đất thộc thửa số 288, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Nguyễn Văn Ú Em ngày 14 tháng 07 năm 2017; được cấp theo hình thức nhận thừa kế từ hộ bà Nguyễn Thị B, khi cấp giấy không có đo đạc thực tế.
- [7.2] Phần diện tích đất thuộc thửa đất số 1705, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T ngày 15 tháng 08 năm 2008, được cấp theo hình thức nhận tặng cho từ hộ ông Nguyễn Văn K và tại thời điểm cấp giấy có tiến hành đo đạc thực tế.
- [7.3] Theo Biên bản đo đạc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã A xác nhận ngày 30/6/2008 thì thửa đất số 1705 được tách ra từ thửa số 289 cùng tờ bản đồ số 4. Quá trình đo đạc, tách thửa đều có người giáp ranh chứng kiến và xác nhận bao gồm ông Nguyễn Văn N2 (cha anh Ú) và chị Nguyễn Thị Kim P. Theo hình thể thửa đất số 1705 thể hiện hướng Bắc giáp thửa 288 (6,5 mét), hướng Nam giáp đường Á (6,5 mét), hướng Đông giáp thửa 289 và hướng Tây giáp thửa 1567 (thực tế là giáp thửa 1567 và 288 nhưng không có đo đạc có độ dài bao nhiêu); đối với hai cạnh thửa đất ở hướng Đông và hướng Tây của thửa số 1705, từ đường đất An Nghiệp chạy dài ra phía sau đến tiếp giáp đầu thửa đất số 288 của anh Út E là hai đường thẳng song song nhau.
- [8] Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Sơ đồ đo đạc cùng ngày 23/3/2023 thể hiện một cạnh ở hướng Đông của thửa số 1705 (từ mốc 20 đến mốc 12) là một đường thẳng, tuy nhiên một cạnh ở hướng Tây của thửa số 1705 không phải là một đường thẳng mà bị gấp khúc ở cuối thửa đất tiếp giáp với chị Nguyễn Thị Kim P, bắt đầu từ mốc 18 (là trụ đá) đi về hướng Tây một đoạn 0,7 mét đến mốc 16, từ mốc 16 chạy dài về hướng Bắc đi ngang qua mốc 15 và đến mốc 14, tại mốc 14 đi về hướng Đông một đoạn 0,32 mét đến mốc 13 (trụ đá). Trong khi đó, tại thời điểm đo đạc cấp giấy thì cạnh thửa đất số 1705 là một đường thẳng từ hướng Nam đến hướng Bắc.
- [9] Cũng theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 đối với thửa số 1705 của anh Nguyễn Văn T có thể hiện một phần căn nhà của anh T đã xây dựng nằm trên đất của anh Nguyễn Văn S1; tuy nhiên, trong vụ án này giữa anh S1 và anh T cũng không có tranh chấp gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh T khẳng định tại hướng Đông của thửa số 1705 chạy dài từ mốc 20 đến mốc 12 là ranh đất giữa anh và anh S1, một phần căn nhà của anh đã nằm trên đất của anh S1, trường hợp giữa anh và anh S1 có tranh chấp thì anh và anh S1 sẽ tự thỏa thuận với anh S1 nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- [10] Về quá trình sử dụng đất, anh Nguyễn Văn Út E xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 288 của anh và thửa số 1705 của anh T có hai trụ đá tại mốc 13 và mốc 18, hai trụ đá này trước đây do cha của anh Út E là ông Nguyễn Văn N2 và cha của anh T là ông Nguyễn Văn K đã xác định, anh Út E không nhớ rõ thời gian cụ thể, anh chỉ nhớ là đã trồng rất lâu. Về phía anh T cũng xác định tại mốc 13 và mốc 18 là hai trụ đá, trụ đá tại mốc 18 anh xác định là ranh đất giữa phần đất của anh và đất của chị Nguyễn Thị Kim P, còn trụ đá tại mốc 13 anh không biết do ai trồng nên anh không đồng ý đây là trụ đá ranh giữa đất của anh và đất của anh Út E, tuy nhiên, từ khi anh nhận tặng cho phần đất này thì anh cũng đã thấy trụ đá nhưng anh không có ý kiến và cũng không có tranh chấp gì với anh Út E. Mặt khác, khi Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện trạng từ mốc 13 đến mốc 18 là hàng rào lưới tạm do anh Út E xây dựng để rào gà, vịt, hàng rào được xây dựng hơn 05 năm nhưng phía anh T cũng không có ý kiến gì.
- [11] Ngoài ra, anh T còn cho rằng phần đất tranh chấp trước đây là con mương thuộc quyền sử dụng của anh nhưng phía gia đình anh Út E đã san lấp nên hiện tại anh không xác định được vị trí ranh đất chính xác nên anh xác định ranh đất theo sơ đồ đo đạc và thống nhất với vị trí này. Việc anh T cho rằng phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của anh nhưng phía anh Út E đã san lấp nhưng anh lại không có ý kiến gì là không có căn cứ.
- [12] Theo đơn khởi kiện cũng như tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ thì phía anh Út E cho rằng ranh đất từ mốc 12 đến mốc 13, phía anh T lại cho rằng ranh đất từ mốc 11 đến mốc 13. Tuy nhiên, sau đó anh Út E xác định lại ranh giới giữa hai bên là đoạn thẳng nối từ mốc 11 đến mốc 13 với lý do là để kéo dài mốc 11 đến mốc 9 không phải dính vào gốc nền mộ tại mốc 10. Do đó, các đương sự đã thống nhất ranh đất từ mốc 11 đến mốc 13 nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
- [13] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Do đó, ranh giới quyền sử dụng đất giữa các bên đương sự được xác định như sau:
- - Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định giữa thửa số 288 (cấp cho ông Nguyễn Văn Út E) và thửa số 1705 (cấp cho hộ anh Nguyễn Văn T) cùng tờ bản đồ số 4, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là đoạn thẳng nối từ mốc 13 đến mốc 18 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
- - Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất; tài sản, cây trồng, công trình xây dựng, công trình kiến trúc của bên người nào lấn chiếm ranh đất phải di dời, tháo dỡ hay đốn bỏ theo quy định của pháp luật.
- [14] Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ như đã phân tích nêu trên.
- [12] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- [13] Về chi phí tố tụng: Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tổng cộng là 6.642.901 đồng, bị đơn phải chịu theo quy định tại Điều 157 và 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; tuy nhiên, số tiền này nguyên đơn đã nộp và chi xong nên bị đơn phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a và c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Út E.
- - Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định giữa thửa số 288 (cấp cho anh Nguyễn Văn Út E) và thửa số 1705 (cấp cho hộ anh Nguyễn Văn T) cùng tờ bản đồ số 4, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là đoạn thẳng nối giữa các mốc 11 - mốc 13 - mốc 18 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
- - Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất; tài sản, cây trồng, công trình xây dựng, công trình kiến trúc của bên người nào lấn chiếm ranh đất phải di dời, tháo dỡ hay đốn bỏ theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh).
- - Về án phí:
- + Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- + Anh Nguyễn Văn Út E không phải chịu án phí nên được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000068 ngày 02/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
- - Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Văn T phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định định giá tài sản với tổng số tiền là 6.642.901 đồng (sáu triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn, chín trăm linh một đồng); do anh Nguyễn Văn Út E đã nộp và đã chi xong nên anh T phải có trách nhiệm trả lại cho anh Nguyễn Văn Út E.
- - Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
- - Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trường Chinh |
Bản án số 77/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 77/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Út Em. - Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định giữa thửa số 288 (cấp cho anh Nguyễn Văn Út Em) và thửa số 1705 (cấp cho hộ anh Nguyễn Văn Thuần) cùng tờ bản đồ số 4, xã An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp là đoạn thẳng nối giữa các mốc 11 - mốc 13 - mốc 18 theo sơ đồ đo đạc ngày 23/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp. - Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất; tài sản, cây trồng, công trình xây dựng, công trình kiến trúc của bên người nào lấn chiếm ranh đất phải di dời, tháo dỡ hay đốn bỏ theo quy định của pháp luật.
