Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/DS-PT

Ngày: 11/7/2024

V/v: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố

hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất vô hiệu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương

Các thẩm phán: Ông Phạm Đình Thanh

Bà Lê Thị Hạng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 11 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”,

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2023/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 73/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  • * Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1965 và bà Lương Thị Đ, sinh năm 1969. Cùng địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
    2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Nguyễn Hữu L và bà Lương Thị Đ: Luật sư Nguyễn Hồng H thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Hồng H thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. Địa chỉ: B đường H, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

    3. Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Xuân T1, sinh năm 1975. Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
    4. Ông T ủy quyền cho bà T1 tham gia tố tụng theo Giấy ủy quyền ngày 07/02/2023. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Địa chỉ: Số A đường L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
    2. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thùy T2 - Chi cục trưởng. Vắng mặt.

    3. Văn phòng C và ông Nguyễn Hữu H1 - Công chứng viên. Cùng địa chỉ: Số B H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • * Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Hữu L, bà Lương Thị Đ, ông Phạm Xuân T, bà Nguyễn Thị Xuân T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà B có cho bà Lương Thị Đ vay tiền nhiều lần để mua đất, sau đó bà Đ bán đất nhưng không trả tiền, bà B đã khởi kiện và Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh đã tuyên buộc bà Đ phải trả cho bà 1.882.000.000 đồng theo Bản án dân sự số 04/2021/DSST ngày 01/3/2021 và Bản án dân sự số 26/2021/DSPT ngày 09/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Tại giai đoạn sơ thẩm bà có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ trong đó có tài sản của bà Đ là thửa đất số 330, tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại tổ dân phố P, phường C, thành phố C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU221504, số vào sổ cấp GCN: CS03871 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp ngày 20/5/2020 cấp cho bà Lương Thị Đ để đảm bảo thi hành án, sau đó tại phiên tòa phúc thẩm bà tự nguyện rút yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên.

Sau khi Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, bà đã làm đơn yêu cầu thi hành án và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh đã thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, vợ chồng bà Lương Thị Đ, ông Nguyễn Hữu L đã thực hiện hợp đồng chuyển nhượng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án là quyền sử dụng đất trên cho vợ chồng ông Phạm Xuân T, bà Nguyễn Thị Xuân T1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng lập ngày 10/9/2020 tại Văn phòng C, nhưng do đang áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước đó nên các bên chưa sang tên được, đến nay bà Đ vẫn chưa trả tiền cho bà theo phán quyết của Tòa án và quyết định thi hành án của cơ quan có thẩm quyền.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, bà B yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 330, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tổ dân phố P, phường C, thành phố C giữa bà Lương Thị Đ, ông Nguyễn Hữu L và bà Nguyễn Thị Xuân T1, ông Phạm Xuân T được Văn phòng C chứng thực ngày 10/9/2020 vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng do vô hiệu.

* Bị đơn ông Nguyễn Hữu L, bà Lương Thị Đ trình bày:

Ông, bà không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị B không có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 330, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tổ dân phố P, phường C, thành phố C vô hiệu và đề nghị Tòa bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C chứng nhận có hiệu lực ngày 10/9/2020, hợp đồng công chứng này có hiệu lực trước thời điểm có Bản án sơ thẩm số 04/2021/DSST ngày 01/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh và Bản án dân sự phúc thẩm số 26/2021/DSPT ngày 09/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng theo Luật đất đai và Luật công chứng, được tiến hành công khai và hợp pháp, cụ thể: Thửa đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án. Hai bên chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng không có tranh chấp hợp đồng, bên nhận chuyển nhượng đã quản lý sử dụng quyền sử dụng đất chuyển nhượng theo hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, ông bà đề nghị tòa tuyên bác yêu cầu khởi kiện của bà B vì không có căn cứ pháp luật, các cơ quan chức năng có trách nhiệm tiếp tục giải quyết thủ tục đăng ký đất đai cho bên nhận chuyển nhượng theo hợp đồng đã công chứng như trình bày nêu trên.

* Bị đơn ông Phạm Xuân T, bà Nguyễn Thị Xuân T1 trình bày:

Ông, bà phản đối nguyên đơn về yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 330, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tổ dân phố P, phường C, thành phố C vô hiệu, bởi Hợp đồng được Văn phòng C chứng nhận có hiệu lực ngày 10/9/2020, hai bên chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng không có tranh chấp.

Ngày 10/9/2020, ông bà là người nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên của ông Nguyễn Hữu L và bà Lương Thị Đ theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C chứng nhận cùng ngày theo Luật đất đai và Luật công chứng, được tiến hành công khai: Thửa đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, trong thời hạn sử dụng đất.

Căn cứ Điều 188 Luật đất đai thửa đất nói trên đủ điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng đất tại cơ quan đăng ký đất đai. Ông, bà không có bất cứ nghĩa vụ gì với bà B. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng có hiệu lực trước thời điểm có Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có nội dung nhận định và quyết định liên quan đến việc Hủy bỏ quyết định số 05/2020/QĐ-BPKCTT của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của bà Đ, cụ thể: Bà Nguyễn Thị B đã rút yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất số 330, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tổ dân phố P, phường C, thành phố C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU221504, số vào sổ cấp GCN: CS03871 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp ngày 20/5/2020 đứng tên bà Lương Thị Đ. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy yêu cầu rút đơn của nguyên đơn là tự nguyện, đúng pháp luật nên đã quyết định: Hủy bỏ quyết định số 05/2020/QĐ-BPKCTT của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ. Như vậy, quyết định số 05/2020/QĐ-BPKCTT đã bị hủy bỏ, không còn hiệu lực từ ngày bản án phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị B biết rõ điều này, đã tự nguyện rút yêu cầu ngăn chặn, Cơ quan thi hành án đã thi hành Quyết định đình chỉ thi hành Quyết định số 05/2020/QĐ-BPKCTT, nay lại yêu cầu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu là không có căn cứ, việc kiện này đã cản trở việc đăng ký quyền sử dụng đất của ông bà.

* Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh trình bày:

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh đã thi hành bản án số 26/2021/DSPT ngày 09/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa và bản án số 04/2021/DSST ngày 01/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh bằng Quyết định thi hành án số 630/QĐ-CCTHADS ngày 11/6/2021, theo đó bà Lương Thị Đ là người phải thi hành án trả cho bà B số tiền 1.882.000.000 đồng. Qua xác minh tài sản xác định bà Đ có thửa đất số 330, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tổ dân phố P, phường C, thành phố C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU221504, số vào sổ cấp GCN: CS03871 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp ngày 20/5/2020. Chi cục đã tiến hành kê biên xử lý thửa đất trên để đảm bảo thi hành án, tuy nhiên bà Đ đã có Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho người khác.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự hiện hành quy định: “Trường hợp có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu...” Trên cơ sở đó, Chi cục đã thông báo theo Thông báo số 173/CCTHADS ngày 04/3/2022 cho bà B khởi kiện và Tòa án đã thụ lý giải quyết. Việc thông báo cho người được thi hành án khởi kiện và việc Tòa án thụ lý để xem xét vụ việc là đúng quy định pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu H1 đồng thời là đại diện theo pháp luật Văn phòng C trình bày:

Ngày 10/9/2020, Văn phòng C tiến hành công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lương Thị Đ, ông Nguyễn Hữu L (bên chuyển nhượng) và bà Nguyễn Thị Xuân T1, ông Phạm Xuân T (bên nhận chuyển nhượng) theo hồ sơ công chứng số 6960, quyển số 01TP/CCSCC/HĐGD ngày 10/9/2020. Việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là đúng quy định pháp luật, văn bản công chứng có hiệu lực theo quy định.

Công chứng viên và Văn phòng C không có quyền lợi hoặc nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án nêu trên nên từ chối tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2023/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 330, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tổ dân phố P, phường C, thành phố C giữa bà Lương Thị Đ, ông Nguyễn Hữu L và bà Nguyễn Thị Xuân T1, ông Phạm Xuân T được Văn phòng C chứng thực số 6960, quyển số 01TP/CCSCC/HĐGD ngày 10/9/2020 vô hiệu.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quy định chung và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 27/11/2023 và 28/11/2023, bị đơn Nguyễn Hữu L, bà Lương Thị Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Ngày 01/12/2023, bị đơn ông Phạm Xuân T, bà Nguyễn Thị Xuân T1 có đơn kháng cáo đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Hữu L và bà Lương Thị Đ cho rằng cấp sơ thẩm xác định lại quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu là không đúng yêu cầu khởi kiện. Việc kê biên tài sản của cơ quan thi hành án không đúng nên bị đơn khiếu nại và hủy quyết định kê biên. Đồng thời, việc nguyên đơn khởi kiện là chưa đủ điều kiện khởi kiện. Do đó, cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
  • - Nguyên đơn cho rằng bản án sơ thẩm đã xét xử đúng quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tại phiên tòa phúc thẩm: Việc ông L, bà Đ vay mượn của nguyên đơn số tiền 1.882.000.000đồng nhưng nợ đến hạn không thanh toán cho bà B mà tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản cho ông T, bà T1. Xét đây là tài sản duy nhất của ông L, bà Đ để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán nợ cho nguyên đơn nhưng lại chuyển nhượng cho người khác. Đồng thời, theo hợp đồng chuyển nhượng nêu trên cho thấy thửa đất và tài sản nêu trên giá sang nhượng là 20.000.000đồng. Tuy nhiên, theo Biên bản định giá của Hội đồng định giá tại cấp sơ thẩm xác định giá đất chuyển nhượng 11.000.000đồng/m² (200,5m²). Do đó, có cơ sở xác định ông L, bà Đ chuyển nhượng thửa đất trong thời điểm có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là trốn tránh nghĩa vụ. Đối với việc chuyển nhượng chưa được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nên chưa có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên hợp đồng chuyển nhượng nêu trên vô hiệu

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngày 27/11/2023, Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử vụ án. Ngày 27 và 28/11/2023, các bị đơn đều kháng cáo Bản án sơ thẩm. Như vậy, kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo:

[2.1]Về nội dung:

Từ tháng 10/2019 đến tháng 06/2020, bà Lương Thị Đ vay của bà Nguyễn Thị B số tiền 2.280.000.000đồng. Theo bản án phúc thẩm số 26/2021/DSPT ngày 09/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa buộc bà Đ phải thanh toán số nợ 1.882.000.000đồng cho nguyên đơn. Sau khi Bản án phúc thẩm có hiệu lực Chi cục thi hành án dân sự Cam Ranh đã ra quyết định thi hành án và kê biên thửa đất số 330, tờ bản đồ số 05 tại thôn P, phường C, thành phố C để giải quyết nợ cho bà B. Tuy nhiên, ông Nguyễn Hữu L và bà Lương Thị Đ đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Phạm Xuân T, bà Nguyễn Thị Xuân T1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/9/2020. Do đó, cơ quan thi hành án không kê biên được tài sản để giải quyết nợ cho bà B. Vì vậy, bà B đã khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nêu trên để đảm bảo cho việc thi hành kê biên tài sản để trả nợ cho bà B.

[2.2] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/9/2020:

Về việc vay nợ: Theo Bản án phúc thẩm số 26/2021/DS-PT ngày 09/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa cho thấy từ tháng 10/2019 đến tháng 06/2020, bà Đ vay của bà B số tiền 1.882.000.000đồng. Trong thời gian từ tháng 06/2020 đến tháng 10/2020, bà Đ không trả nợ cho nguyên đơn. Tuy nhiên, ngày 10/9/2020 ông L, bà Đ đã ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản duy nhất là thửa đất số 330, tờ bản đồ số 05, diện tích 200,5m² tại thôn P, phường C, thành phố C cho ông T, bà T1. Thực tế cho thấy ông L, bà Đ đã không trả nợ và xảy ra việc tranh chấp khởi kiện tại Tòa án. Mặt khác, ông L, bà Đ đã thực hiện việc chuyển nhượng tài sản duy nhất đảm bảo cho khả năng trả nợ của bị đơn nên gây thiệt hại quyền và lợi ích chính đáng cho bà B. Vì vậy, có cơ sở xác định việc chuyển nhượng nêu trên là trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà B.

Về giá trị chuyển nhượng: Theo Biên bản định giá ngày 12/7/2022 của Hội đồng định giá xác định giá thị trường của thửa đất là 11.000.000đồng/m². Như vậy, giá thửa đất chuyển nhượng có giá trị là 2.205.500.000đồng. Tuy nhiên, ông L và bà Đ chuyển nhượng cho ông T, bà T1 với giá 20.000.000đồng là che dấu giá trị, giả tạo và trốn tránh nghĩa vụ đối với việc trả nợ cho bà B, việc chuyển nhượng chưa được đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên chưa có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, việc ông L, bà Đ thực hiện chuyển nhượng nhằm trốn tránh nghĩa vụ như phân tích nêu trên nên bà B khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu là có cơ sở.

Đối với việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Bị đơn vắng mặt tại giai đoạn sơ thẩm và không có yêu cầu. Do đó, cấp sơ thẩm tách giải quyết hậu quả khi ông T, bà T1 có đơn yêu cầu là có cơ sở.

[2.3] Về quan hệ tranh chấp, việc kê biên tài sản thi hành án bị khiếu nại:

  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng quan hệ tranh chấp cấp sơ thẩm xác định yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu là không đúng với yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn. Theo Đơn khởi kiện ngày 25/3/2022, người khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án và căn cứ nội dung tranh chấp của các bên đương sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ tranh chấp tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu là đúng với bản chất nội dung vụ án nên ý kiến của bị đơn là không có cơ sở.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho rằng việc kê biên tài sản thi hành bản án phúc thẩm nêu trên là không đúng nên bị đơn khiếu nại và phải hủy quyết định kê biên. Theo phân tích nội dung nêu trên cho thấy việc hủy bỏ biện pháp kê biên của Chi cục thi hành án thành phố Cam Ranh là do tài sản kê biên liên quan giải quyết trong vụ án khác nên hủy bỏ chờ kết quả giải quyết vụ án này để đảm bảo thủ tục thi hành án theo đúng quy định pháp luật. Do đó, bị đơn cho rằng việc hủy bỏ quyết định kê biên tài sản nêu trên là một trong những lý do bản án sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng nên đề nghị hủy án sơ thẩm là không có cơ sở.

Trên cơ sở phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự:

Ông Nguyễn Hữu L, bà Lương Thị Đ, ông Phạm Xuân T và bà Nguyễn Thị Xuân T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu L, bà Lương Thị Đ, ông Phạm Xuân T và bà Nguyễn Thị Xuân T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.

* Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Hữu L, bà Lương Thị Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đồng và ông Phạm Xuân T, bà Nguyễn Thị Xuân T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004509 ngày 07/12/2023 và 0004521 ngày 14/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Các ông, bà nêu trên đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND Tp. Cam Ranh;
  • - Chi cục THADS Tp. Cam Ranh;
  • - Lưu: Tòa DS, VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Đình Phương

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ..... giờ ..... phút, ngày 11 tháng 07 năm 2024

Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương

Các Thẩm phán: Ông Phạm Đình Thanh

Ông Lê Thị Hạng

Tiến hành nghị án đối với vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 38/2024/TLPT-DS ngày 21/02/2024 về “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu” giữa:

  • * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ dân phố Linh Hòa, phường Cam Linh, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
  • * Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Hữu Lợi, sinh năm 1965 và bà Lương Thị Định, sinh năm 1969. Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Phú Sơn, phường Cam Phú, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
    2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Nguyễn Hữu Lợi và Lương Thị Định: Luật sư Nguyễn Hồng Hà thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Hồng Hà thuộc Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa. Địa chỉ: 25B/A6 đường Hai Bà Trưng, phường Xương Huân, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

    3. Ông Phạm Xuân Thứ, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Xuân Thu, sinh năm 1975. Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Thuận Phát, phường Cam Thuận, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
    4. Ông Thứ ủy quyền cho bà Thu tham gia tố tụng theo Giấy ủy quyền ngày 07/02/2023.

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Địa chỉ: Số 137 đường Lê Hồng Phong, phường Cam Lộc, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
    2. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Chi cục trưởng.

    3. Văn phòng công chứng Trường An và ông Nguyễn Hữu Huệ - Công chứng viên. Cùng địa chỉ: Số 2006 Hùng Vương, phường Cam Lộc, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

Căn cứ vào các tại liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

  1. Về điều luật áp dụng: Biểu quyết 3/3 thống nhất áp dụng các điều luật sau:
    • - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
    • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Về các vấn đề giải quyết vụ án: Biểu quyết 3/3 thống nhất:
  3. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu Lợi, bà Lương Thị Định, ông Phạm Xuân Thứ và bà Nguyễn Thị Xuân Thu, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.

  4. Các vấn đề khác: Biểu quyết 3/3 thống nhất những vấn đề sau:
  5. * Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Hữu Lợi, bà Lương Thị Định phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đồng và ông Phạm Xuân Thứ, bà Nguyễn Thị Xuân Thu phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004509 ngày 07/12/2023 và 0004521 ngày 14/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Các ông, bà nêu trên đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nghị án kết thúc vào hồi .... giờ ..... cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/DS-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

  • Số bản án: 77/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger