|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2024/DS-PT Ngày: 13 - 6 - 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Châu Thạch
Ông Nguyễn Thành Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Anh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Công - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 03/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh bị kháng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 132/2024/QĐ-PT ngày 10/4/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Hồ Văn B, sinh năm 1955; địa chỉ: Số E, đường L, tổ H, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hồ Thị N, sinh năm 1965; địa chỉ: Số F, thôn T, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Hợp đồng ủy quyền ngày 06/5/2024, được chứng thực tại Văn phòng C1.
-
Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1958, địa chỉ: Số nhà C, thôn T, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số nhà C, thôn T, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
-
Vợ chồng anh Trần Tùng L, sinh năm 1986 và chị Đoàn Thị Ái V, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
-
Người kháng cáo: Ông Hồ Văn B – Nguyên đơn.
(Bà N, ông H, bà N1 có mặt, các được sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn ông Hồ Văn B và người đại diện theo ủy quyền có bà Hồ Thị N trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất 4.320,8m², thửa đất số 782, tờ bản đồ số 37, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 392321 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 16-01-2019, tên ông Hồ Văn B là do ông Hồ Văn B khai phá từ năm 1987. Từ trước đến nay ông Hồ Văn B không làm hàng rào phân định ranh giới đất với ông Trần Văn H.
Năm 2017 ông Trần Văn H thực hiện cắm mốc bằng cây thần tài ở hai đầu ranh giới đất giáp giữa ông B và ông H. Hiện nay, không còn cây thần tài do Nhà nước làm đường đã phá bỏ, không còn xác định được ranh giới chính xác. Khi ông B trồng cây cà phê đều cách các hộ tứ cận 1,5m làm ranh giới.
Tháng 3 năm 2020 khi nhà ông H xây xong phần móng nhà thì ông B phát hiện gia đình ông H lấn đất ông B, do khi ông H bắt đầu làm nhà ông B không có ở địa phương nên không biết, khi biết ông B làm đơn yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết, kết quả hòa giải không thành.
Nay ông Hồ Văn B khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn H trả lại diện tích đất 35,8m², trong đó diện tích đất ngang mặt đường 1,3m², thuộc thửa đất số 782, tờ bản đồ số 37, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 392321 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 16-01-2019, tên ông Hồ Văn B. Ngoài ra, ông B không có yêu cầu gì khác.
2. Bị đơn ông Trần Văn H trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất 17.582m², thửa đất số 814A, tờ bản đồ số 53B; thửa 20, tờ bản đồ 54A; thửa 603A và thửa 46, tờ bản đồ số 300, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 073650 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 05-12-1996, tên ông Trần Văn H là do vợ chồng ông khai phá từ năm 1987. Ngày 15-5-1999 chuyển toàn bộ diện tích thửa 603,46, tở bản đồ 30C, tại xã Đ từ đất màu sang đất cà phê theo xác nhận Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tháng 5-1999; ngày 02-7-2012 điều chỉnh thửa đất do thay đổi ranh giới hành chính xã trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ xã Đ sang xã T cho ông Trần Văn H. Ngày 25-6-2012 chuyển nhượng thửa 814A, tờ bản đồ 53B, diện tích 4.080m² đất CLN cho ông Nguyễn T, bà Trần Thị Xuân H1, diện tích còn lại là 13.502m².
Từ khi khai phá không làm hàng rào, đến năm 1996 chưa cắm cột mốc. Khoảng năm 2017 ông B bán đất cho người khác, khi đo đạc đất địa chính xác định ranh giới đất, ông H chặt cây thần tài cắm mốc ranh giới, có 04 cột mốc là 04 cây thần tài, hai đầu ranh giới đất của ông B và ông H cắm hai cây, còn hai cây cắm ở giữa ranh giới, khi cắm mốc có mặt ông B, bà N, cán bộ địa chính xã ông T1, cán bộ đo đạc của huyện ông H2, thôn có ông Huỳnh Hà T2, ông Lê Văn P Thôn trưởng, ông C an ninh thôn.
Tháng 3 năm 2020 khi con trai ông là anh Trần Tùng L (vợ là chị Đoàn Thị Ái V) làm nhà gần xong thì ông Hồ Văn B cho rằng vợ chồng ông lấn đất, ông B yêu cầu trả đất nhưng gia đình ông không đồng ý vì gia đình ông làm nhà lùi vào 20cm, tính từ hàng rào cây thần tài, không lấn chiếm đất của ông B. Hiện nay, cây thần tài cắm mốc đã bị phá bỏ do Nhà nước làm đường.
Nay ông Hồ Văn B yêu cầu ông trả lại diện tích đất 35,8m², trong đó diện tích đất ngang mặt đường 1,3m², thuộc thửa đất số 782, tờ bản đồ số 37, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 392321 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 16-01-2019, tên ông Hồ Văn B thì ông chấp nhận một phần yêu cầu của ông Hồ Văn B là trả lại diện tích đất 0,9 m², thuộc thửa đất số 782, tờ bản đồ số 37, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng theo Họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất của Công ty TNHH A ngày 15-9-2023, diện tích đất còn lại ông Hồ Văn B yêu cầu thì ông không đồng ý.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N1:
Bà là vợ của ông Trần Văn H, bà thống nhất với lời trình bày của ông H.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Tùng L, chị Đoàn Thị Ái V đều đã được triệu tập hợp lệ, đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án, nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 03/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn B về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Trần Văn H.
Buộc ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị N1 cùng có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông Hồ Văn B diện tích đất là 0,9 m², thuộc thửa đất số 782, tờ bản đồ số 37, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 392321 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 16-01-2019, tên ông Hồ Văn B
-
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn B về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Trần Văn H đối với diện tích đất là 34,9 m², thuộc thửa đất số 782, tờ bản đồ số 37, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 392321 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 16-01-2019, tên ông Hồ Văn B.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 12/01/2024 nguyên đơn ông Hồ Văn B kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm tuyên buộc ông Trần Văn H trả lại diện tích đất 35,8m² thuộc một thửa đất số 782, tờ bản đồ số 37, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo yêu cầu bị đơn trả diện tích đất là 35,8m².
Bị đơn không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Hồ Văn B cho rằng quá trình sử dụng đất, ông H đã lấn chiếm sang phần đất của ông diện tích 35,8m² do đó khởi kiện yêu cầu ông H trả lại diện tích đất lấn chiếm. Tuy nhiên ông H không đồng ý nên các bên phát sinh tranh chấp. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[1.2] Đơn kháng cáo của ông B nộp trong hạn luật định, người kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Văn B:
Theo hồ sơ vụ án thể hiện, ông Hồ Văn B được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 392321 ngày 16/01/2019 với diện tích là 4.320,8m². Ông Trần Văn H được Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 073650 ngày 05/12/1996 diện tích 17.582m², thửa số 814A, tờ bản đồ số 53B; thửa 20, tờ bản đồ 54A, thửa 603A và thửa 46, tờ bản đồ số 300, xã T, huyện D. Ngày 15/5/1999 gia đình chuyển thửa 603 và thửa 46, tờ bản đồ 30C tại xã Đ từ đất màu sang đất cà phê theo xác nhận của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; ngày 02/7/2012 điều chỉnh thửa đất do thay đổi ranh giới hành chính xã trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ xã Đ sang xã T cho ông Trần Văn H; ngày 25/6/2012 thì chuyển nhượng thửa 814A, tờ bản đồ 53B; diện tích 4.080m² đất CLN cho ông Nguyễn T, bà Trần Thị Xuân H1, diện tích đất còn lại là 13.502m².
Ông Hồ Văn B xác định ông là người sử dụng đất thuộc thửa 782, tờ bản đồ số 37 xã T, huyện D; giáp với thửa 782 là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 38 ông Trần Văn H là người quản lý sử dụng; hai bên cắm mốc để xác định ranh giới bằng 04 cây thần tài ở hai đầu giáp ranh. Ông H thừa nhận ranh giới đất giữa hai nhà hiện nay không xác định được do cây thần tài các bên cắm mốc khi làm đường đã phá bỏ, nhưng khi làm nhà ông cũng lùi vào 20cm tính từ hàng rào cây thần tài nên không có việc ông lấn chiếm đất của ông B.
Theo Họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất và đã lồng ghép bản đồ địa chính lập ngày 23/10/2023 của Công ty TNHH A do các đương sự chỉ ranh thì hiện nay ông B đang quản lý sử dụng diện tích 5.221,3m² (vị trí số 1) (tăng 900,5m² so với diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp); diện tích đất ông H đang sử dụng là 1230,6m²(vị trí số 2). Trong đó, phần diện tích đất tranh chấp được xác định là 35,8m² (vị trí số 3) và ông H đang là người sử dụng đất lấn sang 0,9m² thuộc một phần thửa 782 của ông B nên ông H đồng ý trả cho ông B diện tích ông sử dụng lấn chiếm là 0,9m². Còn ông B vẫn xác định ông H lấn chiếm là 35,8m².
Xét thấy, quá trình sử dụng đất của các bên là ổn định, lâu dài từ trước đến nay không có tranh chấp; đến năm 2020 khi con trai ông H là anh Trần Tùng L xây nhà thì các bên mới xảy ra tranh chấp. Kết quả đo đạc hiện trạng và lồng ghép bản đồ địa chính thể hiện phần đất ông B tranh chấp với ông H được xác định có 0,9m² thuộc một phần thửa 728, phần còn lại thuộc thửa số 01, tờ bản đồ số 38 thuộc quyền sử dụng của ông H. Do đó, ông H đồng ý trả cho ông B 0,9m² nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của ông B buộc ông H trả cho ông B 0,9m² thuộc một phần thửa 728, phần còn lại thuộc quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, ông H đang quản lý sử dụng nên không chấp nhận yêu cầu của ông B là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên nhận thấy cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nội dung vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Văn B. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Di Linh như ý kiến đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
[3] Về án phí:
Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Ông Hồ Văn B thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Văn B. Giữ nguyên Bản án số 25/2023/DS-ST ngày 20/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
Xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn B về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Trần Văn H.
Buộc ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị N1 cùng có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông Hồ Văn B diện tích đất là 0,9 m², thuộc thửa đất số 782, tờ bản đồ số 37, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Kèm theo Họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất của Công ty TNHH A ngày 15/9/2023).
-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Văn B về việc yêu cầu Trần Văn H trả lại diện tích đất 34,9 m², thuộc thửa đất số 782, tờ bản đồ số 37, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
-
Về án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí cho ông Hồ Văn B và ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị N1.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Vân |
Bản án số 77/2024/DS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 77/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Hồ Văn Ba “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Ông Trần Văn Hạnh
