Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 77/2024/DS-PT

Ngày 01 - 8 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm văn Phấn

Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Hồng Vân

Bà Trần Thị Mỹ Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 06 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 140/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Đình V, sinh năm 1960. Địa chỉ: khối T, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt;

Người đại diện theo ủy quyền của ông V: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1998. Địa chỉ: khối V, phường H, Thành phố V, tỉnh Nghệ An. Theo Giấy ủy quyền ngày 30/7/2024. Có mặt;

- Bị đơn: Ông Cao Xuân T, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1973. Đều có địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Ông T, bà S có mặt;

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Cao Phương A, sinh năm 1994 (con ông T, bà S). Địa chỉ: xóm T, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đề nghị vắng mặt.

- Người kháng cáo: Ông Trần Đình V, nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Đình V, người đại diện theo ủy quyền của ông V trình bày: Ngày 15/03/2022 ông Trần Đình V và vợ chồng ông Cao Xuân T, bà Nguyễn Thị S ký Giấy nhận đặt cọc mua bán thửa đất số 37, tờ bản đồ số 59, diện tích 4.500m², tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Số tiền cọc là 500.000.000 đồng, giá trị mua bán thửa đất là 3.600.000.000 đồng, số tiền còn lại là 3.100.000.000 đồng ông V sẽ chồng đủ cho ông T, bà S vào ngày 20/4/2022 và đến ngày 07/4/2022 ông V và ông T thỏa thuận với nhau chuyển ngày trả tiền đến ngày 24/5/2022. Sau khi ký Giấy nhận đặt cọc và nhận tiền xong thì ông T đã đến Ngân hàng tất toán khoản vay và xóa thế chấp để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về làm thủ tục chuyển nhượng cho ông V. Ngày 16/3/2022, ông V lên làm việc với địa chính xã N thì được biết thửa đất số 37, tờ bản đồ số 59 tại xóm T, xã N, huyện N là thửa đất của chị Cao Phương A, có diện tích 301,3m² chứ không phải có diện tích 4.500m² theo Giấy nhận đặt cọc ngày 15/03/2022 và thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 716665 mang tên Cao Phương A vào ngày 06/07/2021. Mặc dù không phải đất thuộc quyền sở hữu của mình nhưng ông Cao Xuân T và bà Nguyễn Thị S đã cố tình che dấu, lừa ông V trong việc thoả thuận, mua bán để lấy số tiền cọc 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Sau khi ông V phát hiện ra sự việc, ông V đã đến nhà ông T, bà S để yêu cầu trả lại tiền đặt cọc và huỷ bỏ việc mua bán do họ cố ý tạo sự nhầm lẫn trong việc đặt cọc, mua bán đất nhưng ông T, bà S không hợp tác, thiếu thiện chí.

Nay ông Trần Đình V khởi kiện đến Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xem xét, giải quyết yêu cầu sau: Tuyên thoả thuận theo Giấy nhận đặt cọc ngày 15/3/2022 giữa Ông Cao Xuân T và bà Nguyễn Thị S với ông Trần Đình V là vô hiệu; Buộc ông Cao Xuân T và bà Nguyễn Thị S trả lại cho ông Trần Đình V số tiền đặt cọc 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 15/3/2022 đến nay. Sau đó, ông V rút phần yêu cầu về lãi suất phát sinh từ ngày 15/3/2022.

Ông Cao Xuân T và bà Nguyễn Thị S thống nhất trình bày: Vào ngày 15/3/2022 ông Trần Đình V lên nhà ông T, bà S để mua đất của gia đình. Sau khi trao đổi và thỏa thuận hai bên thống nhất bán số đất diện tích 4.500m², với số tiền 3.600.000.000 đồng (ba tỷ sáu trăn triệu đồng). Diện tích đất này bao gồm hai thửa đất là thửa đất của vợ chồng ông T, bà S và thửa đất của con gái Cao Phương A (chị Phương A đã có gấy ủy quyền cho ông T được tự mua bán mảnh đất trên). Sau đó ông V là người viết giấy đặt cọc số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và hẹn đến ngày 20/4/2022 sẽ trả hết số tiền còn lại. Trước đó ông T, bà S đã chỉ cho ông V xem toàn bộ khu vực đất mà ông bà sẽ bán (vì lúc đó bìa đang cắm trong ngân hàng nên không có bìa). Ông V biết rõ diện tích đất và chính ông V là người ghi trong hợp đồng nhận đặt cọc là “số đất trên có hai bìa hồng, 01 bìa của con gái Cao Phương A và 01 bìa của ông Cao Xuân T, bà Nguyễn Thị S, trừ phần nhà của ông T, bà S”. Sau khi ông T, bà S nhận được tiền cọc xong thì khoảng 7 – 10 ngày sau ông V cho người đến san lấp diện tích trên, cào luôn cả số gốc cam và chuồng trâu của gia đình rồi cho người dăng dây. Tuy nhiên một thời gian sau (khoảng 10 ngày từ sau ngày san lấp mặt bằng) thì ông V đến nói với ông T, bà S là không mua đất nữa và yêu cầu trả lại tiền cọc. Yêu cầu của ông V là quá vô lý nên ông T, bà S không đồng ý. Trong hợp đồng này không có sự lừa dối nào như ông V trình bày. Ông T, bà S đã trao đổi trước với ông V là bìa (GCNQSDĐ) hiện tại đang thế chấp trong ngân hàng nên không có bìa, diện tích đất cần bán cụ thể ông T, bà S đã đưa ông V đi xem đúng thực tế và cũng nói với ông V là diện tích đất đó bao gồm hai thửa của ông T, bà S và con gái Cao Phương A. Ông V biết và đồng ý với tất cả những nội dung trên và ông V vẫn đồng ý mua. Sau này đất xuống giá, ông V không tách được thửa để bán nên không muốn mua nữa rồi viện cớ ông T, bà S lừa dối là không đúng nên ông T, bà S không đồng ý với yêu cầu của ông V.

Chị Cao Phương A trình bày: Nhất trí như ý kiến trình bày của bố mẹ chị (ông T, bà S). Trước đó chị A đã làm hợp đồng ủy quyền cho bố (ông T) toàn quyền đứng ra quyết định nội dung mua bán mảnh đất mang tên của chị Cao Phương A. Việc mua bán của bố mẹ chị A là đúng quy định, chị A đã ủy quyền hết cho ông T mọi nội dung liên quan đến mảnh đất nên chị A cũng không có ý kiến gì.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 328, khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử phần yêu cầu tính lãi suất do nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện.
  2. Không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 15/03/2022 giữa ông Trần Đình V ký kết với ông Cao Xuân T và bà Nguyễn Thị S là vô hiệu và không có cơ sở buộc bị đơn ông Cao Xuân T, bà Nguyễn Thị S và người liên quan chị Cao Phương A trả lại tiền đặt cọc cho ông Trần Đình V.

Ngoài ra Bản án còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 11 tháng 03 năm 2024, nguyên đơn ông Trần Đình V kháng cáo với nội dung: Thứ nhất thửa đất mà ông Trần Đình V đặt cọc là thửa số 37, tờ bản đồ số 59, có diện tích 4.500m² chứ không phải thửa đất số 37, tờ bản đồ số 59 có diện tích 301,3m² như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông T, bà S cung cấp; Thứ hai ông T, bà S đã cố tình cung cấp thông tin không chính xác về thửa đất cũng như không cung cấp giấy tờ quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 59 diện tích 4.500m² tại xóm T, xã N, huyện N. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Đình V giữ nguyên nội dung kháng cáo; các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng, nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Đình V giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Ngày 15/03/2022, ông Trần Đình V và vợ chồng ông Cao Xuân T, bà Nguyễn Thị S ký kết hợp đồng đặt cọc mua bán thửa đất số 37, tờ bản đồ số 59, với diện tích 4.500m2 tại xóm T, xã N, huyện N với giá mua bán là 3.600.000.000 đồng, ông V đặt cọc trước số tiền 500.000.000 đồng, số còn lại sẽ trả cho ông T, bà S vào ngày 20/04/2022. Đến ngày 07/4/2022 ông V và ông T thỏa thuận với nhau chuyển ngày trả tiền đến ngày 24/5/2022. Tại hợp đồng đặt cọc hai bên thống nhất thỏa thuận “Sau lúc chồng tiền cọc, cho bên B là ông V cào xúc dọn vườn. Số đất trên có hai bìa hồng, 01 bìa của con gái ông T là chị Cao Phương A và 01 bìa của ông T và bà S (trừ nhà ông T, bà S)”. Sau khi giao tiền đặt cọc cho ông T, bà S, ông V đã tiến hành cắm mốc và thuê máy san lấp mặt bằng đối với phần diện tích 4.500m² mà hai bên cam kết sẽ giao dịch chuyễn nhượng.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Đình V, thấy rằng: Giấy nhận đặt cọc ngày 15/03/2022 được ký kết giữa bên nhận đặt cọc là ông Cao Xuân T, và bên đặt cọc ông Trần Đình V thửa đất số 37 tờ bản đồ số 59 diện tích 4.500m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, ông T, bà S đã nhận 500.000 triệu đồng đặt cọc của ông V. Việc ký kết và đặt cọc tiền giữa ông Trần Đình V và vợ chồng ông Cao Xuân T, bà Nguyễn Thị S đều hoàn toàn tự nguyện thể hiện ý chí của các bên, nội dung thỏa thuận phù hợp pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

Ông Trần Đình V và người đại diện theo ủy quyền của ông V cho rằng tại thời điểm đặt cọc để nhận chuyển nhượng vùng đất 4.500m², vợ chồng ông T, bà S không cung cấp đầy đủ thông tin về khu đất, có ý thức lừa dối ông V, thấy rằng: Tại Giấy đặt cọc ngày 15/3/2022 do ông Trần Đình V tự mình viết có nội dung “...Số đất trên có hai bìa hồng, 1 bìa của con gái Cao Phương A, một bìa của ông Cao Xuân T và bà Nguyễn Thị S” và sau khi giao tiền đặt cọc cho ông T, bà S; ông V đã tiến hành cắm mốc và thuê máy san lấp khu đất mà hai bên đã cam kết chuyển nhượng. Ông V biết rất rõ diện tích 4.500m² là của hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hơn nữa, đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 59 thuộc quyền sử dụng đất của chị Cao Phương A thì ngày 12/10/2021 chị Phương A đã làm hợp đồng ủy quyền cho ông Cao Xuân T được quyền thay mặt chị A có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực hiện các thủ tục kê khai nộp thuế, đăng ký sang tên quyền sử dụng đất. Do đó, ông V cho rằng ông T, bà S đã cố tình cung cấp thông tin không chính xác về khu đất đất là không có cơ sở.

Bởi vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Đình V về yêu cầu ông Cao Xuân T, bà Nguyễn Thị S trả lại số tiền đặt cọc ngày 15/3/2022 là có căn cứ. Vì vậy, nội dung kháng cáo của ông V không có căn cứ để chấp nhận cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: Kháng cáo của ông Trần Đình V không được chấp nhận nhưng thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Đình V, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 01/2024/DSST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An;
  2. Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm đối với ông Trần Đình V.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Nghĩa Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nghĩa Đàn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Phấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/DS-PT ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 77/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HĐ ĐẶT CỌC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger