|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2023/HS-ST Ngày: 28 – 12 – 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Hoa Lài
Ông Nguyễn Kim Phong
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
VÕ VĂN H - sinh năm 1994; tên gọi khác: Không có; nơi sinh: Tại xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Chỗ ở hiện tại: Tổ B, khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961 và bà Võ Thị H1, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ tên Trần Thị H2 và 01 người con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại đang tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1954 (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị Ba K1, Nguyễn Thị K2, Nguyễn Thị K3. Bà K, bà K1, bà K2, bà K3 ủy quyền cho bà T1. Bà T1 xin vắng mặt. Bà K1 có mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Võ Hải Đ1, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 05/02/2023, sau khi có uống rượu, bị cáo Võ Văn H3 (sinh năm 1994, đăng ký thường trú tại thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình) điều khiển phương tiện xe mô tô biển số kiểm soát 73H1-490.82 lưu thông trên tỉnh lộ 929, hướng từ thị trấn M về xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Bị cáo H3 điều khiển xe lên cầu X, thuộc ấp A, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang thì buồn ngủ nên ngủ gật, không làm chủ được tay lái, xe mô tô do bị cáo H3 điều khiển lấn sang phần đường bên trái và đụng vào xe mô tô biển số kiểm soát 95B1-375.89 do ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1954, đăng ký thường trú tại ấp B, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang) điều khiển theo hướng ngược lại. Hậu quả tai nạn, ông Nguyễn Văn Đ2 bị thương tích nặng được đưa đi bệnh viện cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ3, đến ngày 10/02/2023 thì xuất viện.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 20 giờ 40 phút ngày 05/02/2023, tại tỉnh lộ 929, ấp A, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang thể hiện:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là Cầu Xà N, mặt đường băng phẳng, tổ chức giao thông hai chiều, có vạch kẻ đường phân chia phần đường xe chạy, có hệ thống đèn chiếu sáng.
Mặt đường nơi xảy ra tai nạn rộng 11 mét. Chọn mép đường phải theo hướng đi từ Trường L đến thị trấn M làm chuẩn. Mốc cầu phía bên phải theo hướng đi từ Trường L đến Một Ngàn làm chuẩn.
Đầu vết cày xe 95B1-375.89 cách mép đường chuẩn 1,10 m, cuối vết cày cách mép đường chuẩn 1,29 mét; cách tâm trục sau xe 1,10 m, vết cày dài 0,70 m, chiều hướng từ Một Ngàn đến T, có màu trắng in lõm xuống mặt đường.
Xe mô tô 95B1-375.89 ở vị trí ngã nghiêng sang trái, đầu xe hướng sang mép đường trái, đuôi xe hướng vào mép đường chuẩn, tâm trục trước cách mép đường chuẩn 1,50 m, cách điểm mốc làm chuẩn 274,30 m. T2 trục sau cách mép đường chuẩn 3,40 m, cuối vết cày cách mép đường chuẩn 0,45 m.
Đầu vết cày xe 73H1-490.82 cách mép đường chuẩn 3,40 m, cuối vết cày cách mép đường chuẩn 3,65 m, cách đầu vết cày của xe là 17,60 m. Đầu vết cày của xe 73H1-490.82 cách mép đường chuẩn là 7,25m, cuối vết cày ở vị trí gác chân trước bên trái của xe, vết cày dài 1,55m, chiều hướng từ thị trấn M đến xã T.
Đầu vết cày của xe 73H1-490.82 cách mép đường chuẩn 6,25 m, cuối vết cày ở vị trí đầu tay cầm bên trái của xe, vết cày dài 0,50m, chiều hướng từ Một Ngàn đến T.
Xe mô tô 73H1-490.82 ở vị trí ngã nghiêng sang trái, đầu xe hướng về Trường Long A, đuôi xe hướng về Một Ngàn, tâm trục trước cách mép đường chuẩn 6,55m, tâm trục sau cách mép đường chuẩn 6,85m.
T2 vùng đụng cách mép đường chuẩn 3m, cách tâm trục trước xe 95B1-375.89 là 2,05 m, cách đầu vết cày của xe 73H1-490.82 là 1,70m (Bút lục số: 4-6).
Tại Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 247/266-267/23/ĐC ngày 23/02/2023 của Phân viện pháp y quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trong mẫu máu vụ Võ Văn H3, sinh năm 1994 do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C gửi tới giám định ngày 15/02/2023: Có tìm thấy E với hàm lượng 90,85mg/100ml (Bút lục số: 72).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 39/KL.ĐGTS ngày 08/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đã định giá và kết luận: Giá trị hư hỏng của xe mô tô biển số kiểm soát 95B1-375.89 là 5.129.000 đồng (Bút lục số: 75-78).
Vật chứng đã tạm giữ gồm:
01 xe mô tô biển số kiểm soát 95B1-375.89; 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số kiểm soát 95B1-375.89 mang tên Nguyễn Văn Đ (Bút lục số 29-31);
01 xe mô tô biển số kiểm soát 73H1-490.82; 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số kiểm soát 73H1-490.82 mang tên Võ Văn H3 (Bút lục số 37-39).
Đối với xe mô tô biển số kiểm soát 73H1-490.82 là của bị cáo Võ Văn H3 đứng tên chủ sở hữu; xe mô tô biển số kiểm soát 95B1-375.89 là của ông Nguyễn Văn Đ mua lại của Võ Hải Đ1 (sinh năm 1997, đăng ký thường trú tại ấp B, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang) nhưng chưa làm thủ tục sang tên trong giấy đăng ký xe (Bút lục số: 122-123).
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Võ Văn H3 đã thỏa thuận bồi thường số tiền 83.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1956, đăng ký thường trú tại ấp B, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang – vợ ông Đ) đã đại diện nhận và không yêu cầu bồi thường thêm. Đối với hư hỏng của xe mô tô biển số kiểm soát 95B1-375.89 bị cáo H3 thống nhất sẽ sửa chữa các bộ phận bị hư hỏng và bàn giao lại cho gia đình ông Đ (Bút lục sô: 125-126; 137).
Ngày 12/11/2023, ông Nguyễn Văn Đ đã chết. Nguyên nhân chết theo Kết luận giám định tử thi số 147/KLGĐTT-TTPY ngày 28/11/2023 của Sở y tế tỉnh H, kết luận: Nhồi máu cơ tim cấp; đa vết loét nhiễm trùng; Chấn thương sọ não/Tai nạn giao thông.
Tại Cáo trạng số 63/CT-VKS-HCTA ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Võ Văn H3 về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, khi bị hại chết, bị cáo có đến cúng điếu cho gia đình số tiền là 2.000.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 83.000.000 đồng và bị cáo tự nguyện bồi thường thêm số tiền 21.100.000 đồng, trong đó có phiếu mua phụ tùng sửa xe số tiền 5.100.000 đồng (đã mua xong), còn lại số tiền 15.000.000 đồng bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho gia đình bị hại. Bị cáo xin nhận lại xe và giấy tờ. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bà K1 cho biết gia đình bà không yêu cầu bồi thường thêm. Tuy nhiên, bị cáo bồi thường thêm thì gia đình bị hại đồng ý nhận. Cụ thể, bị cáo bồi thường thêm tổng số tiền 21.100.000 đồng, trong đó có phiếu mua phụ tùng sửa xe số tiền 5.100.000 đồng, phiếu này bị cáo cho rằng đã mua xong nhưng gia đình bị hại chưa nhận, còn lại số tiền 15.000.000 đồng gia đình bị hại xin nhận. Trước đó, gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền 83.000.000 đồng. Yêu cầu được nhận lại xe và các giấy tờ có liên quan.
Tại phiên tòa, anh Võ Hải Đ1 trình bày: Xe mô tô hiệu SYM biển kiểm soát 95B1-375.89 do anh đứng tên đã bán lại cho Nguyễn Văn Đ sử dụng nên không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Văn H3 về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi gây tai nạn bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại, gia đình bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương xã N về việc có tham gia dùng thuyền đi biển cứu hộ, cứu nạn cho bà con vùng lũ. Đối với yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận. Do bị cáo phạm tội khi trong người có sử dụng rượu bia và nồng độ cồn rất cao so với quy định, bị cáo lấn sang đường bên trái và bị cáo không có nơi cư trú ổn định.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Võ Văn H3 từ 01 năm 03 tháng đến 02 năm tù giam. Thời hạn chấp hành án khi bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại Đ là bà Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị Ba K1, Nguyễn Thị K2, Nguyễn Thị K3 01 (một) xe mô tô chủng loại SYM, màu trắng xanh, biển kiểm soát 95B1 – 375.89 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô do Võ Hải Đ1 đứng tên và 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn Đ;
Trả lại bị cáo Võ Văn H3 01 (một) xe loại SH 150i, màu trắng đen, biển kiểm soát 73H1 – 490.82; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô xe biển kiểm soát 73H1 – 490.82 do Võ Văn H3 đứng tên.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thêm cho đại diện hợp pháp bị hại số tiền 21.100.000 đồng, trong đó có phiếu mua phụ tùng sửa xe là 5.100.000 đồng và số tiền 15.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, vụ án này không có liên quan đến công việc bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không phạt bổ sung.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A; Điều tra viên; kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị T1 xin vắng mặt có cử bà K1 tham dự phiên tòa. Xét thấy bà T1 đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của bà T1 không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bà T1 là phù hợp.
[3] Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Võ Văn H3 thừa nhận hành vi bị cáo thực hiện. Đối chiếu lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở chứng minh được như sau: Vào khoảng 20 giờ ngày 05/02/2023, bị cáo Võ Văn H3 tham gia giao thông khi trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định dẫn đến ngủ gật, điều khiển phương tiện lấn sang phần đường bên trái gây tai nạn giao thông với xe mô tô 95B1-375.89 do ông Nguyễn Văn Đ điều khiển theo hướng ngược lại. Hậu quả tai nạn làm ông Nguyễn Văn Đ bị thương tích với tỷ lệ 62%. Ngày 12/11/2023, ông Nguyễn Văn Đ đã tử vong.
[4] Về tội danh: Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được khi tham gia gia thông không được sử dụng rượu, bia và các chất kích thích khác nhưng bị cáo cố tình tham gia giao thông khi trong người có nồng độ cồn rất cao, cụ thể theo kết luận giám định pháp y tìm thấy bị cáo có trong người bị cáo có Ethanol với hàm lượng 90,85mg/100ml. Do đó, bị cáo đã vi phạm khoản 8 Điều 8; Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và Khoản 6 Điều 5 Luật Phòng chống tác hại của rượu bia và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Văn H3, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bà Nguyễn Thị T1 (vợ ông Đ) có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương xã N về việc có tham gia dùng thuyền đi biển cứu hộ, cứu nạn cho bà con vùng lũ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khỏe, tính mạng của người khác, gây mất trật tự giao thông tại địa phương. Bị cáo tham gia giao thông khi nồng độ cồn trong người rất cao dẫn đến bị cáo ngủ gật, không điều khiển tay lái dẫn đến lấn sang đường bên trái gây tai nạn cho ông Đ dẫn đến ông Đ tử vong, gây mất mát cho gia đình nạn nhân. Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự hạ khung hình phạt, giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thêm cho đại diện hợp pháp bị hại số tiền 21.100.000 đồng, trong đó có phiếu mua phụ tùng sửa xe là 5.100.000 đồng và số tiền 15.000.000 đồng.
[9] Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại Đ là bà Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị Ba K1, Nguyễn Thị K2, Nguyễn Thị K3 01 (một) xe mô tô chủng loại SYM, màu trắng xanh, biển kiểm soát 95B1 – 375.89 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô do Võ Hải Đ1 đứng tên và 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 đứng tên Nguyễn Văn Đ;
Trả lại bị cáo Võ Văn H3 01 (một) xe loại SH 150i, màu trắng đen, biển kiểm soát 73H1 – 490.82; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô xe biển kiểm soát 73H1 – 490.82 do Võ Văn H3 đứng tên.
[10] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, vụ án này không có liên quan đến công việc bị cáo nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung.
[11] Từ những phân tích nêu trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H3 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Xử phạt: Bị cáo Võ Văn H3 01 (năm) 03 (ba) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Võ Văn H3.
2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thêm cho đại diện hợp pháp bị hại là các bà Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị Ba K1, Nguyễn Thị K2, Nguyễn Thị K3 số tiền 21.100.000 đồng, trong đó có phiếu mua phụ tùng sửa xe là 5.100.000 đồng và số tiền 15.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại Đ là bà Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị Ba K1, Nguyễn Thị K2, Nguyễn Thị K3 01 (một) xe mô tô chủng loại SYM, màu trắng xanh, biển kiểm soát 95B1 – 375.89 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô do Võ Hải Đ1 đứng tên và 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 do Nguyễn Văn Đ đứng tên;
Trả lại bị cáo Võ Văn H3 01 (một) xe loại SH 150i, màu trắng đen, biển kiểm soát 73H1 – 490.82; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô xe biển kiểm soát 73H1 – 490.82 do Võ Văn H3 đứng tên.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Võ Văn H3 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và 1.055.000 đồng án phí dân sự.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Á |
Bản án số 77/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 77/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tai nạ giao thông
