|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2023/HS-ST Ngày: 17 - 11- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Xuân Nam
2. Bà Lê Thị Thanh Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Thành Ngưng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Tạ Hoàng T, sinh năm 1984 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B H, tổ B, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Kinh doanh; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn T1 (sinh năm 1958) và bà Trần Thị Xuân M (sinh năm 1960); hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/4/2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận P. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại:
-
Bà Phan Thị Kiều O, sinh năm 1989
Địa chỉ: A T, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt tại phiên tòa) -
Bà Trần Thị Mộng T2, sinh năm 1966
Địa chỉ: A Q, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt tại phiên tòa) -
Bà Bùi Thị Mỹ P, sinh năm 1984
Địa chỉ: 7 khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Trần Thanh L
Địa chỉ: 9 Bờ Bao T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong năm 2021 và 2022, Tạ Hoàng T là Giám đốc Công ty TNHH D (sau đây gọi tắt là Công ty D), lợi dụng danh nghĩa công ty, 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Ngày 05/4/2021, bà Phan Thị Thùy O1 liên lạc với Tạ Hoàng T qua tài khoản Zalo số điện thoại 0908.353.xxx để trao đổi và thỏa thuận đặt 18 phòng ngủ tại Resort Lotus Mũi N với giá tiền là 55.800.000 đồng. Sau đó, để bà O1 tin tưởng nên T gửi cho bà O1 mã đặt phòng khách sạn rồi yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản của Công ty D, số tài khoản 0071001223048, mở tại Ngân hàng V. Sau đó, bà O1 đã chuyển 55.800.000 đồng vào số tài khoản do T cung cấp. Sau khi nhận tiền, T không thanh toán tiền phòng khách sạn cho bà O1, mà chuyển tiền vào tài khoản V số 0071001373706 của T và tiêu xài hết.
Vụ thứ hai: Ngày 14/5/2022, bà Trần Thị Mộng T2 liên lạc với Tạ Hoàng T qua tài khoản Zalo số điện thoại 0908.353.xxx để đặt mua 02 voucher du lịch, mỗi voucher trị giá 1.700.000 đồng tại Resort M B. Triều yêu cầu bà T2 chuyển đủ tiền thì sẽ gửi 02 voucher cho bà T2 nên bà T2 đã chuyển khoản số tiền 3.400.000 đồng vào tài khoản V số 0071001223048 - đứng tên Công ty D, sau khi nhận được tiền, T không đặt voucher cho bà T2, mà chuyển tiền vào tài khoản V số 0071001373706 của T và tiêu xài hết.
Vụ thứ ba: Ngày 14/10/2022, bà Bùi Thị Mỹ P liên lạc với Tạ Hoàng T qua tài khoản Zalo số điện thoại 0908.353.xxx để đặt mua mã code phòng du lịch tại V1 trị giá 15.000.000 đồng vào các ngày 15, 16, 17 tháng 01/2023. Khi nhắn tin với bà P, T giới thiệu mình tên P1 là nhân viên công ty và yêu cầu bà P chuyển khoản thanh toán trước 7.500.000 đồng, khi nào công ty chuyển mã code cho bà P thì sẽ thanh toán phần còn lại nên bà P đã chuyển số tiền 7.500.000 đồng vào tài khoản V số 0071001223048 - đứng tên Công ty D. Sau khi nhận được tiền, T không đặt voucher cho bà T2, mà chuyển tiền vào tài khoản V số 0071001373706 của T và tiêu xài hết.
Đến ngày 18/4/2023, khi Tạ Hoàng T đến giao dịch tại Ngân hàng V, số A P, Phường I, quận P thì bị nhân viên ngân hàng phát hiện báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P đến và đưa Tạ Hoàng T về trụ sở Công an làm việc. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Tạ Hoàng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tại Cơ quan điều tra, Tạ Hoàng T khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt số tiền 66.700.000 đồng của bà Phan Thị Thùy O1, bà Trần Thị Mộng T2, bà Bùi Thị Mỹ P như đã nêu trên. Đồng thời, T khai do cần tiền tiêu xài và đầu tư tiền ảo bị thua lỗ nên khi bà O1, bà T2, bà P liên hệ giao dịch, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên do một mình T thực hiện.
Lời khai nhận của Tạ Hoàng T là phù hợp với lời khai các bị hại và các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được.
Phần dân sự:
Ngày 25/4/2023, bà Trần Thị Xuân M (mẹ ruột bị can T) đã bồi thường cho bà O1 số tiền 55.800.000 đồng. Bà O1 cam kết không thắc mắc, khiếu nại về sau.
Bà Bùi Thị Mỹ P yêu cầu bị can bồi thường số tiền 7.500.000 đồng đã bị chiếm đoạt.
Bà Trần Thị Mộng T2 yêu cầu bị can bồi thường số tiền 3.400.000 đồng đã bị chiếm đoạt.hân thân, lai lịch) rủ đi uống cà phê, sau đó, K
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Tạ Hoàng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và nhân thân của bị cáo; đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Tạ Hoàng T mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại T2 và P, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các văn bản tố tụng có trong hồ sơ vụ án như bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung,... đều được tiến hành theo đúng quy định; tại các bản khai, biên bản hỏi cung và các tài liệu khác bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng có trong hồ sơ vụ án của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án:
Do cần tiền tiêu xài và đầu tư tiền ảo bị thua lỗ nên Tạ Hoàng T, Giám đốc Công ty TNHH D (gọi tắt là Công ty D) nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền, bị cáo lợi dụng danh nghĩa công ty, 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Ngày 05/4/2021, bà Phan Thị Thùy O1 liên lạc với Tạ Hoàng T qua tài khoản Zalo số điện thoại 0908.353.xxx để trao đổi và thỏa thuận đặt 18 phòng ngủ tại Resort Lotus Mũi N với giá tiền là 55.800.000 đồng. Sau đó, T gửi cho bà O1 mã đặt phòng khách sạn để bà O1 tin rồi yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản của Công ty D, số 0071001223048, mở tại Ngân hàng V. Do tin tưởng, nên bà O1 đã chuyển 55.800.000 đồng vào số tài khoản do T cung cấp. Sau khi nhận tiền, T chuyển tiền vào tài khoản V số 0071001373706 của T và tiêu xài hết.
Cùng hành vi tương tự, thông tài khoản Zalo số điện thoại 0908.353.xxx vào ngày 14/5/2023 và ngày 14/10/2022, bị cáo đã lần lượt lừa chiếm đoạt của các bị hại bà Trần Thị Mộng T2 và bà Bùi Thị Mỹ P mua voucher du lịch tại Resort Minera Hot Springs B và mã code phòng du lịch tại V1.
[3]. Về tội danh:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, bản kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Tạ Hoàng T đã dùng thủ đoạn gian dối, lợi dụng việc kinh doanh của công ty do mình làm chủ để nhận đặt thuê phòng khách sạn, sau khi được các khách hàng chuyển tiền tới công ty nhưng không đặt thuê phòng mà chuyển khoản qua tài khoản cá nhân của mình, rồi sau đó chiếm đoạt tiền của các bị hại, cụ thể đã chiếm đoạt: 55.800.000 đồng (của bà Phan Thị Kiều O) + 3.400.000 đồng (của bà Trần Thị Mộng T2) + 7.500.000 đồng (của bà Bùi Thị Mỹ P) = 66.700.000 đồng. Do vậy bị cáo Tạ Hoàng T bị truy tố và xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, an toàn xã hội. Do vậy các hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi tội phạm 03 lần, thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, do vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại đối với bị hại; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
+ Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 25/4/2023, bà Trần Thị Xuân M (mẹ ruột của bị cáo T) đã bồi thường cho bà O 55.800.000 đồng. Bà O cam kết không thắc mắc, khiếu nại về sau.
Đối với thiệt hại của bà Bùi Thị Mỹ P số tiền 7.500.000 đồng, bà Trần Thị Mộng T2 số tiền 3.400.000 đồng, hiện bị cáo chưa khắc phục; phía các bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản tiền trên, xét thấy yêu cầu của các bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật; vậy căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo bồi thường khoản tiền tương ứng như đã nêu trên cho bà Bùi Thị Mỹ P và bà Trần Thị Mộng T2.
+ Về xử lý vật chứng:
Đối với: 01 xe mô tô hiệu Honda SH màu trắng - đen, biển số: 59D1-650.77 (Triều sử dụng khi đến giao dịch tại Ngân hàng V và bị bắt giữ). Qua xác minh, do ông Đặng Trần Thanh L đứng tên chủ sở hữu. Hiện ông L không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu nên Cơ quan điều tra chưa thể ghi lời khai của ông L để làm rõ. Còn bị can T khai mua và sử dụng xe trên từ năm 2021 nhưng chưa làm thủ tục sang tên; xét thấy đây là tài sản cá nhân do T đang sử dụng, không phải là vật chứng vụ án; nên chuyển giao Công an quận P xử lý theo thẩm quyền hành chính.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen là công cụ phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
[6]. Về án phí: Bị cáo Tạ Hoàng T chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Hoàng T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
-
Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Tạ Hoàng T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2023. -
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo Tạ Hoàng T bồi thường các khoản tiền, cụ thể như sau:
- + Số tiền 7.500.000 (bảy triệu năm trăm nghìn) đồng cho bà Bùi Thị Mỹ P.
- + Số tiền 3.400.000 (ba triệu bốn trăm nghìn) đồng cho bà Trần Thị Mộng T2.
Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ:
- Chuyển giao Công an quận P xử lý theo thẩm quyền hành chính: 01 xe mô tô biển số: 59D1-650.77 (loại xe: hai bánh, nhãn hiệu: Honda SH, màu sơn: trắng đen, dung tích xi lanh: 124, số khung: 215DY-031364, số máy: F42E-0031386).
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen đã cũ không kiểm tra được số imei.
(Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/7/2023 giữa Công an quận P và Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 545.000 (năm trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa tính từ ngày tuyên án; đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hương Giang |
Bản án số 77/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 77/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
