Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CB

TỈNH CB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76a/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 19/7/2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CB, TỈNH CB

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Văn Hộ
  2. Ông Lưu Danh Thùy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố CB, tỉnh CB.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố CB, tỉnh CB: Ông Đàm Thế Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố CB, tỉnh CB xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HNGD ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Lương Thị Đ - sinh năm 1981; HKTT: Đức Hồng, T, CB; Chỗ ở hiện nay: Tổ E, phường D, thành phố C, tỉnh CB; Có mặt.

Bị đơn: Nông Văn T - sinh năm 1982; HKTT: Đức Hồng, T, CB; Chỗ ở hiện nay: Tổ E, phường D, thành phố C, tỉnh CB; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 28/3/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Lương Thị Đ trình bày: Bà và ông Nông Văn T tổ chức lễ cưới vào năm 2002, đăng ký kết hôn ngày 28/11/2002 tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh CB. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu và tổ chức lễ cưới tại hai bên gia đình.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên rượu chè cờ bạc, không chăm lo đến gia đình, mâu thuẫn xảy ra thường xuyên và kéo dài. Quá trình chung sống có xảy ra cãi cọ, xô xát, nhiều lần ông T dùng bạo lực tuy nhiên không xảy ra thương tích nặng nề. Mâu thuẫn xảy ra vợ chồng tự hòa giải nhiều lần và đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả. Từ tháng 3 năm 2023 bà Đ và ông T đã sống ly thân, quá trình ly thân vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức độ trầm trọng, yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Nông Hoài N (giới tính: Nam, sinh ngày 01/01/2004). Hiện nay con đã thành niên và lập gia đình riêng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ xác định không có tài sản chung, không có nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ông T trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, quá trình chung sống đôi lúc có xảy ra cãi cọ, xô xát nhưng không gây ra thương tích gì nặng nề. Hiện nay ông và bà Đ đã ly thân và không còn chung sống với nhau. Quá trình ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn đã được vợ chồng tự nói chuyện hòa giải nhiều lần nhưng vẫn bất đồng quan điểm và không tìm được tiếng nói chung. Tuy nhiên ông T không nhất trí ly hôn với bà Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Nông Hoài N (giới tính: Nam, sinh ngày 01/01/2004). Hiện nay con đã thành niên và lập gia đình riêng.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông T xác định không có tài sản chung, không có nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập ông T tham gia tố tụng nhưng ông T vắng mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên tòa, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt có ý kiến không nhất trí ly hôn. Bà Đ có mặt tại phiên toà và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố CB, tỉnh CB phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên xử cho bà Lương Thị Đ được ly hôn với Nông Văn T.

Về con chung: Hiện nay con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Bà Lương Thị Đ phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ ý kiến trình bày của đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố CB về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Lương Thị Đ có yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với bị đơn Nông Văn T. Ông Nông Văn T có nơi cư trú tại tổ E, phường D, thành phố C. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án nhân dân thành phố CB, tỉnh CB thụ lý và giải quyết vụ án theo thẩm quyền.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Đ và ông Nông Văn T tổ chức lễ cưới vào năm 2002, có đăng ký kết hôn ngày 28/11/2002 tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh CB. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu và tổ chức lễ cưới tại hai bên gia đình. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Đ và ông T đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát nhưng không xảy ra thương tích nặng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Bà Đ xác nhận do ông T thường xuyên rượu chè, cờ bạc nên dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Quá trình mâu thuẫn đã được vợ chồng và hai bên gia đình hòa giải nhiều lần, tổ dân phố đã khuyên can nhưng không có kết quả, không tìm được tiếng nói chung. Từ tháng 3 năm 2023 đến nay ông T và bà Đ đã ly thân, không sống chung với nhau, quá trình ly thân cả hai không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa.

Tại biên bản xác minh tổ dân phố tổ E, phường D, thành phố C và Biên bản lấy lời khai con chung của ông T, bà Đ đề ngày 14/6/2024 thể hiện: Quá trình chung sống vợ chồng ông T, bà Đ có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T thường xuyên uống rượu say và xảy ra xô xát với bà Đ, mặc dù đã được gia đình hoà giải và tổ dân phố khuyên bảo nhưng không thành. Hiện nay ông T, bà Đ đã sống ly thân.

Tại phiên tòa, bà Đ xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông T. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T không nhất trí ly hôn với bà Đ nhưng không đưa ra giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông T lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu Ly hôn của bà Đ là có căn cứ và cần chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án, ông T và bà Đ đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Nông Hoài N (giới tính: Nam, sinh ngày 01/01/2004). Hiện nay con chung đã thành niên, đã kết hôn, có đủ khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ và ông T đều xác nhận không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn Lương Thị Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bà Đ và ông T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, 266, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lương Thị Đ.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lương Thị Đ và ông Nông Văn T.
  2. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Nông Hoài N (giới tính: Nam, sinh ngày 01/01/2004). Hiện nay con chung đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự và có đủ khả năng lao động nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự xác nhận không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Lương Thị Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Đ đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000978 ngày 15/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố CB, tỉnh CB. Xác nhận bà Đ đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn Lương Thị Đ có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn Nông Văn T vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh CB;
  • - Viện kiểm sát tỉnh CB;
  • - Viện kiểm sát TP CB;
  • - Thi hành án DS TP CB;
  • - UBND xã ĐH, huyện TK, tỉnh CB;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76a/2024/HNGĐ - ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CB, TỈNH CB về ly hôn

  • Số bản án: 76a/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CB, TỈNH CB
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn Lương Thị Đ - Nông Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger