|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 769/2025/DS-PT Ngày: 05-11-2025 “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Võ Trinh; |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Minh Tùng; |
| Ông Đinh Chí Tâm; |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Trần Thị Điểu- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 05 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 599/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 64/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 514/2025/QĐ-PT, ngày 21 tháng 10 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1980 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H là ông Trần Thanh H1, sinh năm 1963 (có mặt).
Địa chỉ: 1, đường số A, phường L, tỉnh Tây Ninh.
-Bị đơn:
1. Ông Phạm Văn B, sinh năm 1959 (có mặt);
2. Bà Lê Thị D, sinh năm 1959 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Thị T, sinh năm 1981;
- Anh Phạm Văn K, sinh năm 1985 (có mặt);
- Chị Phạm Thị L, sinh năm 1987;
- Anh Phạm Văn C, sinh năm 1990;
- Anh Phạm Văn M, sinh năm 1993.
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bà Phạm Thị H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm chị H trình bày:
Năm 1996 chị H có chồng nhưng sống không hạnh phúc nên chị H về nhà cha mẹ ruột ở, lúc này ông B, bà D mời kêu chị H cất nhà ở ngay vị trí đang tranh chấp. Đến năm 2008, gia đình chị H thuộc diện hộ nghèo nên được ủy ban xã H cho một nền ở khu dân cư nhưng lúc này phía ủy ban đưa 02 phương án lựa chọn, một là nếu chị H không có đất thì sẽ được xét cho một nền ở khu dân cư xã H, còn nếu đã có đất thì sẽ cho tiền cất nhà nên chị H mới hỏi ý kiến của ông B, bà D thì ông B, bà D đồng ý cho diện tích ngay vị trí hiện đang tranh chấp. Do cha mẹ đã cho đất nên phía ủy ban quy ra tiền nền tái định cư trị giá là 11.200.000 đồng và cho chị H vay thêm 8.000.000 đồng để cất nhà. Khi mới ra riêng thì chị H xây nhà lá, khi được ủy ban xã H cho tiền 11.200.000 đồng vào năm 2008 thì mới xây lại nhà tường nhưng không tô do không đủ tiền, mỗi năm sửa chữa, tu bổ thêm, tổng cộng chi phí xây nhà khoảng 80.000.000 đồng (chị tính hao chứ không biết chính xác bao nhiêu vì mỗi năm đều có tu bổ).
Khi ông B, bà D cho đất xây nhà thì ông B có làm giấy tờ ngày 06/02/2021 nhưng sau đó thì ông B, bà D và các em của chị H mâu thuẫn với chị H nên nay ông B, bà D thay đổi ý kiến không chịu cho đất nữa. Lúc này cha mẹ và các em của chị H gây khó khăn không cho gia đình chị H ở tiếp tại đất đang tranh chấp buộc lòng gia đình chị H bỏ đi nơi khác ở. Thời điểm này con trai lớn của chị H lao động ở N có tiền nên gửi về cho vợ chồng chị H mua đất, xây nhà mới gần chùa L1 gần ủy ban xã H cũ, chi phí xây nhà mới là khoảng 2.300.000.000 đồng, cộng thêm tiền mua đất 800.000.000 đồng, bơm cát trên 100.000.000 đồng nên tổng cộng vừa mua đất, xây nhà mới là trên 3.000.000.000 đồng. Trên mặt giấy tờ thì chị H đứng tên đất và nhà còn nguồn tiền thì do con trai chị H gửi về.
Trong thời gian ở trên đất thì vợ chồng chị H có đầu tư vào đất này. Còn 02 đứa con của chị H thì không có đầu tư gì.
Nay chị Phạm Thị H yêu cầu ông Phạm Văn B và bà Lê Thị D tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có diện tích 464m² đất thuộc một phần thửa số 1665, tờ bản đồ số 23 do hộ ông Phạm Văn B đứng tên giấy chứng nhận, đất tọa lạc ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Chị H yêu cầu được công nhận quyền quản lý, sử dụng hợp pháp phần đất vị trên đất còn nhà cũ chị H. Chị H không đồng ý bán căn nhà cho bà D, ông B. Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu của chị H thì chị H cũng không yêu cầu gì đối với chi phí đầu tư vào phần đất này.
Đối với kết quả xem xét thẩm định, định giá và sơ đồ đo đạc thì bên chị H thống nhất, không có ý kiến và cũng không yêu cầu định giá lại.
*Bị đơn bà Lê Thị D trình bày:
Trước đây thời gian trên 20 năm thì chị H có chồng ở bên nhà chồng được khoảng 01 tháng nhưng vợ chồng H sống không hạnh phúc nên chị H về nhà bà D ở. Vợ chồng bà D cất cho mẹ con chị H cái chòi phía trước ngay căn nhà và đất đang tranh chấp. Sau này do con trai lớn của chị H học giỏi, nhà chị H thuộc diện hộ nghèo nên được ủy ban xã H xét cho mẹ con chị H một nền nhà ở khu dân cư nhưng lúc nào phía ủy ban đưa cho mẹ con chị H 02 phương án lựa chọn, một là nếu chị H không có đất thì sẽ được xét cho một nền ở khu dân cư xã H, còn nếu có đất thì sẽ cho tiền cất nhà nên lúc này ông B, bà D kêu mẹ con chị H ở ngay miếng đất hiện đang tranh chấp để lấy tiền Ủy ban xã hỗ trợ về cất nhà ở.
Việc ông B, bà D cho vợ chồng H cất nhà trên đất là chỉ cho ở tạm để có thể nhận số tiền ủy ban xã hỗ trợ, không phải chia đất cho H vì đến nay ông B, bà D cũng chưa chia đất cho bất cứ người con nào.
Bà D xác định nguyên nhân mâu thuẫn là: Trước đây ông B, bà D có khoảng 12.000m² đất ruộng và 3.000m² đất vườn. Tất cả phần đất này một phần do vợ chồng tạo lập mua từ người khác, một phần được ông bà cho. Các thửa đất được cấp cho hộ ông Phạm Văn B nhưng đất đai là tài sản chung của vợ chồng chưa chia cho người con nào.
Do trước đây ông B, bà D có hứa bán cho chị H một phần đất với giá 140.000.000 đồng để trả tiền cho chị H nhưng do lúc này đứa con tên Phạm Văn M bị ở tù nên không thể ký tên tách giấy cho chị H được, sau này chị H không chịu lấy đất nữa mà đòi lại tiền nền ông B, bà D mới lo trả tiền, vừa trả tiền gốc và lãi trả cho chị Hằng số tiền 222.500.000 đồng. Khoảng năm 2019 thì gia đình chị H tự bỏ đi nơi khác ở chứ gia đình bà D không ai đuổi. Sau khi gia đình chị H đi được vài năm thì chị H mới quay lại khởi kiện yêu cầu ông B, bà D đòi số tiền 222.500.000 đồng nên 2022 thì ông B, bà D đã bán diện tích 12.000m² đất ruộng để trả nợ do ông B trúng khoai lỗ, trả lãi cho chị Hằng số tiền 222.500.000 đồng.
từ đó vợ chồng chị H mâu thuẫn với gia đình bà D
Vợ chồng chị H xây nhà mới gần chùa L1 xã H cũ, chi phí xây nhà mới là trên 3.000.000.000 đồng.
Nay bà D không đồng ý theo yêu cầu của chị H vì bà D có 06 người con chưa chia cho ai, bà D và ông B chỉ còn diện tích hơn 2.000m² là tài sản chung vợ chồng chưa chia để dưỡng già. Đối với căn nhà trên đất nếu chị H về ở thì về, bà D không ngăn cản, còn nếu chị H không ở thì bà D đồng ý mua lại căn nhà với giá 100.000.000 đồng. Bà D không yêu cầu chị H di dời căn nhà. Còn phần chuồng heo bị hư hỏng thì chị H phải di dời nơi khác hoặc đập bỏ để giao lại phần đất trồng cho bà D sử dụng. Hiện căn nhà chị H và chuồng heo đang bỏ trống.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H về việc yêu cầu ông Phạm Văn B, bà Lê Thị D tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để công nhận cho chị H đối với diện tích 464m² đất thuộc một phần thửa số 1665, tờ bản đồ số 23, đất trồng cây lâu năm do hộ ông Phạm Văn B đứng tên giấy chứng nhận, đất tọa lạc ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị D.
Cho bà Lê Thị D, ông Phạm Văn B được mua lại căn nhà của chị Phạm Thị H nằm trên đất có diện tích 116m² thuộc một phần thửa đất số 1665, tờ bản đồ số 23 theo các mốc 1 – C – B – A – 1 theo sơ đồ đo đạc ngày 10/9/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Đồng Tháp. Bà D, ông B có trách nhiệm trả cho chị Hằng số tiền 140.813.977 đồng và bà D, ông B được sở hữu căn nhà này.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền về quyền kháng cáo của các bên đương sự.
- Sau khi xét xử sơ thẩm: Chị H có yêu cầu kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm theo hướng,
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H về việc yêu cầu ông Phạm Văn B, bà Lê Thị D tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị H về việc yêu cầu được công nhận đối với phần đất được tặng cho của bị đơn là ông B, bà D nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, phía nguyên đơn là chị H không đồng ý với quyết định bản án sơ thẩm nên có kháng cáo, Tòa án tỉnh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm, phù hợp với quy định tại Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu kháng cáo của chị H về việc yêu cầu công nhận phần đất mà ông Phạm Văn B và bà Lê Thị D vào năm 1996 đã cho chị Phạm Thị H với diện tích 400m² đo đạc thực tế 464m² thuộc một phần thửa 1665, tờ bản đồ số 23, loại đất trồng cây lâu năm tọa lạc xã T, tỉnh Đồng Tháp để cho chị H đứng tên quyền sử dụng đất. Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Nguồn gốc thửa đất 1665 là của ông B, bà D tạo lập nên ông B, bà D có quyền định đoạt đối với phần đất này theo ý chí của ông B, bà D.
- Chị H xác định diện tích 464m² mà ông B, bà D cho chị H cất nhà trên đất là cho luôn, không phải cho ở tạm. Tuy nhiên, việc này không được phía bà D, ông B thừa nhận; chị H cũng không có tài liệu nào để chứng minh việc này.
- Đồng thời, phần diện tích đất chị H yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất là 464 m² thuộc một phần thửa 1665, tờ bản đồ số 23, loại đất trồng cây lâu năm là không đủ diện tích tối thiểu để được cấp đất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Công văn số 1450/UBND-NC ngày 26/5/2025 của Ủy ban nhân dân huyện C. Do đó, việc chị H yêu cầu công nhận đất đối với diện tích nêu trên là không thực hiện được.
- Bên cạnh đó, hiện nay gia đình chị H có nơi ở ổn định là căn nhà mới tại chợ H2, do chị H đứng tên quyền sử dụng đất nên dù không được Tòa án công nhận quyền quản lý, sử dụng hợp pháp đối với diện tích 464m² thì cũng không ảnh hưởng đến nơi ở hiện tại của gia đình chị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà D, cũng là người đại diện theo ủy quyền của ông B trình bày: bà và ông B hiện nay chỉ còn thửa đất 1665, diện tích 822,0m² nhưng có đến 6 người con, ông, bà cũng chưa có chia cho người con nào đối với phần đất này vì đây là phần đất có căn nhà của ông, bà cất nhà để ở và dưỡng già. Do đó, phần căn nhà chị H đã xây dựng thì chị H cứ ở, bà không có yêu cầu di dời, chứ bà không đồng ý tách quyền sử dụng đất cho chị H. Còn nếu chị H không ở giao lại cho bà và ông B thì bà và ông B đồng ý trả giá trị căn nhà cho chị H. Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của bà D là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các bên đương sự. Vì vậy, không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị H.
Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc yêu cầu công nhận quyền quản lý, sử dụng hợp pháp diện tích 464m² đất thuộc một phần thửa 1665, tờ bản đồ số 23 là phù hợp.
[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo của chị H về việc không đồng ý nhận tiền đền bù đối với căn nhà mà ông Phạm Văn B, bà D phải trả cho chị H với số tiền 140.813.977 đồng và chị H cũng không đồng ý di dời tài sản để trả lại đất cho ông B, bà D. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Hiện nay, chị H cũng không sử dụng căn nhà từ năm năm 2021 đến nay, hiện chỉ còn xác nhà. Căn nhà chị H đang bỏ trống, còn bà D, ông B thì đang quản lý phần đất còn lại của thửa 1665. Do đó, nhằm để thuận tiện cho bà D, ông B trong việc quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất 1665, cũng như theo ý kiến của bà D, ông B mong muốn được mua lại căn nhà của chị H để ông B sinh sống nên việc Tòa án cấp sơ thẩm giao căn nhà của chị H lại cho bà D, ông B quản lý, sử dụng; bà D, ông B đồng ý trả giá trị căn nhà lại cho chị H. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy phù hợp nên chấp nhận. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị H.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp mới là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện V trình bày và đề nghị: Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị H, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm. Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.
Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, chị H phải chịu tiền án phí phúc thẩm.
Các nội dung còn lại của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 92, các Điều 147, 157, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 12, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và Lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Phạm Thị H;
- Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 64/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp.
Tuyên xử:
[1]. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H về việc yêu cầu ông Phạm Văn B, bà Lê Thị D tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để công nhận cho chị H đối với diện tích 464m² đất thuộc một phần thửa số 1665, tờ bản đồ số 23, loại đất trồng cây lâu năm do hộ ông Phạm Văn B đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
[2]. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị D.
Bà Lê Thị D, ông Phạm Văn B được mua lại căn nhà của chị Phạm Thị H nằm trên đất có diện tích 116m² thuộc một phần thửa đất số 1665, tờ bản đồ số 23 theo các mốc (1 – C – B – A – 1) theo sơ đồ đo đạc ngày 10/9/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Đồng Tháp.
Bà D, ông B có trách nhiệm trả giá trị căn nhà lại cho chị Hằng số tiền 140.813.977 đồng; bà D, ông B được quyền sở hữu căn nhà này.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3]. Buộc chị Phạm Thị H di dời chuồng heo để giao lại phần đất trồng cho bà Lê Thị D, ông Phạm Văn B quản lý, sử dụng.
(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/12/2024 và sơ đồ đo đạc ngày 10/9/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Đồng Tháp).
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Phạm Thị H chịu 2.958.000 đồng án phí trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.600.000 đồng theo các biên lai số 0013693 ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8, tỉnh Đồng Tháp) và biên lai số 0001268 ngày 06/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Như vậy, chị H còn phải nộp tiếp số tiền 358.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lê Thị D, ông Phạm Văn B được miễn nộp tiền án phí.
Về án phí phúc thẩm:
Chị H phải chịu 300.000 đ tiền án phí phúc thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002828 ngày 26/9/2025 của Chi cục thi hành án sự tỉnh Đồng Tháp.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Võ Trinh |
Bản án số 769/2025/DS-PT ngày 05/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 769/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
