| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 767/2024/HS-PT | |
| Ngày 28-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Ông Dương Tuấn Vinh
Ông Phan Nhựt Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lưu động phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 584/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Tấn T.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 765/2024/QĐXXPT-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024.
* Họ và tên bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Tấn T, sinh ngày 01/12/1970 tại An Giang.
Nơi cư trú: số L - C7 khu thu nhập thấp, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: số A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: xây dựng; con ông Nguyễn Tấn Đ (chết) và bà Trần Thị K (chết); có vợ là Lê Thị Lam T1, sinh năm 1982; con có 04 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Dương Thị Y, Đoàn Luật sư thành phố C (có mặt).
* Bị hại:
- - Bà Trần Thị C, sinh năm 1974
- - Ông Trần Văn H, sinh năm 1974
Cùng địa chỉ: tổ A, ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang (đều có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Lam T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: số A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Ông Trần Duy L, sinh năm 1994; Địa chỉ: ấp A, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
Người kháng cáo: Bị hại bà Trần Thị C và ông Trần Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2003, ông Nguyễn Ngọc C1 (hiện đã chết) mua phần đất, có diện tích 110.000m2, tại ấp B, xã B, thành phố P, tỉnh Kiên Giang nhưng do ông C1 bị bệnh, không tiện đi lại nên ông C1 uỷ quyền cho Nguyễn Tấn T thay mặt ông C1 liên hệ cơ quan chức năng làm thủ tục đo đạc, đăng ký đối với diện tích đất nêu trên. Nếu làm được, ông C1 sẽ chia cho T phần đất có diện tích 55.000m2, mọi chi phí trong quá trình thực hiện T phải bỏ ra trước, T đồng ý nên ngày 28 tháng 7 năm 2022 ông C1 lập hợp đồng ủy quyền cho T.
Sau khi được ủy quyền, T đến thành phố P, tỉnh Kiên Giang hỏi một số người bạn thì được biết phần đất này không thể làm thủ tục đo đạc để đăng ký quyền sử dụng đất.
Đến khoảng tháng 6/2022, T đến nhà ông Nguyễn Văn C2 thì quen biết bà Trần Thị C và ông Trần Văn H. Tại thời điểm này, do cần tiền để trả nợ và chỉ xài cá nhân nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bà C. Để thực hiện, mặc dù biết rõ phần đất trên không được đo đạc để đăng ký quyền sử dụng đất nhưng T vẫn đưa ra thông tin gian dối với bà C là trong 06 tháng sẽ đo đạc, đăng ký xong, kêu gọi bà C đưa tiền cho T để làm chi phí đo đạc, đăng ký, khi hoàn thành sẽ chia cho bà C 5.000m2 trong phần đất trên. Tin là thật, từ ngày 04/8/2022 đến ngày 14/9/2022, bà C 04 lần chuyển tiền vào tài khoản số 0707113997 của T tại Ngân hàng S, với tổng số tiền 1.500.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T trả nợ, điều trị bệnh, mua chiếc xe Toyota Rush biển số 68A.12371, mua bảo hiểm và chỉ xài cá nhân.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 26/HS-ST ngày 29-5-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, đã tuyên xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T 17 (mười bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 138; Điều 357 và Điều 587 Bộ luật Dân sự.
- Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Trần Văn H và Trần Thị C số tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của người bị hại về việc giữ lại xe ô tô biển số 68A.12371 để đảm bảo thi hành án.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Duy L và ông Nguyễn Văn Đ1 về việc được tiếp tục thực hiện thủ tục mua bán xe ô tô biển số 68A.12371 (nếu không có tranh chấp nào khác về quyền và nghĩa vụ liên quan đến xe ô tô này).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 10/6/2024, bị hại Trần Thị C và Trần Văn H kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt, xử lý hình sự đối với vợ bị cáo Nguyễn Tấn T là bà Lê Thị Lam T1 và thu giữ chiếc xe ô tô biển số 68A.12371 do phạm tội mà có để đảm bảo thi hành án về bồi thường dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà C và ông H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Thị C và Trần Văn H về đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo T, xử lý hình sự đối với bà Lê Thị Lam T1 và thu giữ chiếc xe ô tô biển số 68A.12371, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng: Bị cáo chiếm đoạt 1.500.000.000đ bị xử phạt 17 năm tù, là nặng. Tuy bị cáo không có kháng cáo nhưng luật sư đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và không chấp nhận kháng cáo của các bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và Luật sư, Hội đồng xét xử nhận thấy:
*Về tố tụng:
[1]. Ngày 10/6/2024, bị hại Trần Thị C và Trần Văn H kháng cáo là trong hạn, hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
*Về nội dung:
[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Tấn T khai nhận như sau:
Do cần tiền tiêu xài, tháng 6/2022 bị cáo cố tình đưa ra thông tin gian dối là đang hoàn thành thủ tục xin đo đạc và đăng ký quyền sử dụng đất để vợ chồng ông Trần Văn H và bà Trần Thị C tin tưởng. Do tin tưởng vào lời nói dối của T, ông H và bà C đã 04 lần chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng của bị cáo với tổng số tiền 1.500.000.000 đồng. Số tiền này bị cáo đã chiếm đoạt và tiêu xài hết. Trong đó có sử dụng để mua chiếc xe Toyota Rush biển số 68A.12371, xe này đã bán lại cho ông Trần Duy L với giá 400.000.000 đồng. Việc bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tiền của bị hại, bị cáo không nói cho vợ biết.
[3]. Xét lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của các bị hại, người liên quan, vật chứng của vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
* Xét kháng cáo của bị hại Trần Thị C và Trần Văn H về tăng hình phạt đối với bị cáo T và xử lý hình sự đối với bà Lê Thị Lam T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4]. Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 04 lần với tổng số tiền 1.500.000.000đ của người bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 17 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, không nhẹ.
[5]. Đối với bà Lê Thị Lam T1 (vợ bị cáo Nguyễn Tấn T) là người đứng tên trên giấy tờ chiếc xe ô tô biển số 68A.12371, xe ô tô này là tài sản do bị cáo sử dụng tiền chiếm đoạt của bị hại để mua. Nhưng việc bị cáo T thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của người bị hại, bị cáo T không bàn bạc hay nói cho bà T1 biết, sau khi T chiếm đoạt được tiền của người bị hại dùng vào việc mua chiếc xe nêu trên, T cũng không nói cho bà T1 biết tiền sử dụng mua xe là do phạm tội mà có. Nên hành vi của bà Lê Thị Lam T1 không cấu thành tội phạm, do đó Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà T1 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[6]. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm, người bị hại xuất trình một số tài liệu được in ra từ mạng xã hội Zalo, nhưng qua xem xét thì không có nội dung nào liên quan đến tội phạm.
[7]. Cũng tại phiên tòa cấp phúc thẩm, người bị hại xuất trình 01 USB có nội dung ghi âm, bị hại cho rằng trong nội dung ghi âm này là đoạn hội thoại giữa vợ chồng bị hại với bà T1 (vợ bị cáo T), việc ghi âm này được thực hiện khoảng tháng 3 năm 2023. Sau khi nghe và xem xét nội dung của đoạn ghi âm, chỉ thể hiện nội dung bà T1 thanh minh nguyên nhân bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội là do khách quan chứ không phải do cố ý. Hơn nữa, ngày 04/8/2022 đến ngày 14/9/2022 bị cáo T đã thực hiện xong 04 lần chiếm đoạt số tiền 1.5000.000.000₫ của bị hại, sau đó đến tháng 3 năm 2023 bị hại mới ghi âm đoạn hội thoại nêu trên, thời điểm này bị cáo T đã thực hiện xong tội phạm (tội phạm đã hoàn thành, đã đạt), nên việc bà T1 sau này có trao đổi với bị hại, không phải là hành vi giúp sức cho bị cáo T.
[8]. Do đó, kháng cáo của bị hại Trần Thị C và Trần Văn H về tăng hình phạt đối với bị cáo T và xử lý hình sự đối với bà Lê Thị Lam T1 không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
*Xét kháng cáo của bị hại Trần Thị C và Trần Văn H về thu giữ chiếc xe ô tô biển số 68A.12371 để đảm bảo cho việc thi hành án. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[9]. Căn cứ lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ thu thập được thể hiện chiếc xe ô tô hiệu Toyota Rush, biển số 68A.12371 là tài sản do bị cáo sử dụng một phần tiền chiếm đoạt của người bị hại để mua, nhưng cho vợ (bà T1) đứng tên trên giấy đăng ký và Hợp đồng mua bán. Sau đó, bị cáo đã thế chấp xe cho Công ty F để vay tiền, do không có khả năng thanh toán nên đã bán chiếc xe trên cho ông Trần Duy L với giá 400.000.000 đồng, nhưng chưa sang tên cho ông L, Sau đó, ông L bán lại cho ông Nguyễn Văn Đ1, ông Đ1 cũng chưa được sang tên. Như vậy, chiếc xe ô tô này là vật trực tiếp liên quan đến phạm tội mà có. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì chiếc xe ô tô nêu trên phải được thu giữ để đảm bảo cho việc thi hành án khoản tiền mà bị cáo phải bồi thường cho người bị hại.
[10]. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không thu giữ chiếc xe ô tô biển số 68A.12371 để đảm bảo thi hành án mà cho ông Trần Duy L và ông Nguyễn Văn Đ1 được tiếp tục thực hiện thủ tục mua bán xe ô tô biển số 68A.12371, là không phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, kháng cáo của bị hại Trần Thị C và Trần Văn H về yêu cầu thu giữ chiếc ô tô biển số 68A.12371 để đảm bảo thi hành án về bồi thường dân sự, là có căn cứ chấp nhận.
[11]. Đối với giao dịch, mua bán có liên quan đến chiếc xe ô tô hiệu Toyota Rush, biển số 68A.12371 nêu trên, giữa bị cáo T, bà T1 với ông L; giữa ông L với ông Đ1, nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
[12]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Thị C và Trần Văn H về tăng nặng đối với bị cáo Nguyễn Tấn T và xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà Lê Thị Lam T1, là có căn cứ chấp nhận; Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Thị C và Trần Văn H về thu giữ chiếc xe ô tô biển số 68A.12371 để đảm bảo cho việc thi hành án, là không có căn cứ chấp nhận.
[13]. Quan điểm của của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo tăng nặng đối với bị cáo Nguyễn Tấn T là có căn cứ chấp nhận. Nhưng đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
[14]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của người bị hại được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
[15]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị hại Trần Thị C và Trần Văn H.
Sửa một phần Bản án Hình sự sơ thẩm số: 26/HS-ST ngày 29-5-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- 1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- 2. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- 2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- 3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 138; Điều 357 và Điều 587 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo Nguyễn Tấn T phải bồi thường cho bị hại Trần Văn H và Trần Thị C số tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng).
Tách các giao dịch, mua bán có liên quan đến chiếc xe ô tô hiệu Toyota Rush, biển số 68A.12371, giữa bị cáo Nguyễn Tấn T, bà Lê Thị Lam T1 với ông Trần Duy L; giữa ông Trần Duy L với ông Nguyễn Văn Đ1, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
- 4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Thu giữ chiếc xe ô tô hiệu Toyota Rush, biển số 68A.12371 để đảm bảo thi hành án về bồi thường dân sự đối với số tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng) mà bị cáo Nguyễn Tấn T phải bồi thường cho bị hại Trần Văn H và Trần Thị C nêu trên.
- 5. Án phí hình sự phúc thẩm: bị hại bà Trần Thị C và ông Trần Văn H không phải chịu.
- 6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 767/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 767/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS 2015
