|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 766/2024/DS – ST
Ngày: 17 - 9 - 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Bà Võ Kim Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên toà: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 586/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1013/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1305/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1; Trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền là: Ông Trần Văn L, sinh năm 1980; địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P, số B đường U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 031580.24 ngày 22/02/2024) - Có mặt.
- Bị đơn: Ông Phùng Văn Bình A, sinh năm 1982; Địa chỉ: C T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Ngân hàng Q1 do ông Trần Văn L là người đại diện theo ủy quyền có ý kiến trình bày như sau:
Ngân hàng TMCP Q1 (gọi tắt là V) đã ký với ông Phùng Văn Bình A các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 5870373.21 ngày 24/06/2021 với nội dung: VIB cho ông Phùng Văn Bình A vay số tiền 3.450.000.000 đồng; mục đích vay vốn: bù đắp vốn tự có nhận chuyển nhượng bất động sản. Ngày 01/07/2021, V đã giải ngân cho ông Phùng Văn Bình A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5870373(2).21 với số tiền 550.000.000 đồng; thời hạn vay: 360 tháng; lãi suất vay: lãi suất tại thời điểm giải ngân 9,5%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,9%/năm; trả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 01, ngày trả nợ đầu tiên 01/08/2021, lịch trả nợ được phân kỳ như sau: Tháng 01-36 số tiền trả mỗi tháng 2.500.000 đồng, tháng 37-84 số tiền trả mỗi tháng 5.000.000 đồng, tháng 85-132 số tiền trả mỗi tháng 7.000.000 đồng, tháng 133-156 số tiền trả mỗi tháng 10.000.000 đồng, tháng 157-329 số tiền trả mỗi tháng 12.000.000 đồng, tháng 330-359 số tiền trả mỗi tháng 15.000.000 đồng, tháng 360 trả toàn bộ dư nợ còn lại; trả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 01, ngày trả lãi đầu tiên 01/08/2021.
- Ngày 02/07/2021, V đã giải ngân cho ông Phùng Văn Bình A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5870373(3).21 với số tiền 1.200.000.000 đồng; thời hạn vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 01/07/2051; lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân 9,5%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,9%/năm; trả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 01, ngày trả nợ đầu tiên 01/08/2021, lịch trả nợ được phân kỳ như sau: Tháng 01-36 số tiền trả mỗi tháng 2.500.000 đồng, tháng 37-84 số tiền trả mỗi tháng 5.000.000 đồng, tháng 85-132 số tiền trả mỗi tháng 7.000.000 đồng, tháng 133-156 số tiền trả mỗi tháng 10.000.000 đồng, tháng 157-329 số tiền trả mỗi tháng trả 12.000.000 đồng, tháng 330-359 số tiền trả mỗi tháng 15.000.000 đồng, tháng 360 trả toàn bộ dư nợ còn lại; trả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 01, ngày trả lãi đầu tiên 01/08/2021.
- Ngày 06/07/2021, V đã giải ngân cho ông Phùng Văn Bình A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5870373(4).21 với số tiến 1.700.000.000 đồng; thời hạn vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 01/07/2051; Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân 9,3%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,7%/năm; trả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 01, ngày trả nợ đầu tiên 01/08/2021, lịch trả nợ được phân kỳ như sau: Tháng 01-36 số tiền trả mỗi tháng 2.500.000 đồng, tháng 37-84 số tiền trả mỗi tháng 5.000.000 đồng, tháng 85-132 số tiền trả mỗi tháng 7.000.000 đồng, tháng 133-156 số tiền trả mỗi tháng 10.000.000 đồng, tháng 157-329 số tiền trả mỗi tháng 12.000.000 đồng, tháng 330-359 số tiền trả mỗi tháng 15.000.000 đồng, tháng 360 trả toàn bộ dư nợ còn lại; trả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 01, ngày trả lãi đầu tiên 01/08/2021.
- Hợp đồng tín dụng số 2992771.21 ngày 04/10/2021 với nội dung: VIB cho ông Phùng Văn Bình A vay số tiến 150.000.000 đồng; mục đích vay vốn: Bù đắp tiền mua sắm trang thiết bị phục vụ đời sống gia đình. Ngày 07/10/2021, V đã giải ngân cho ông Phùng Văn Bình A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2992771(1).21 với số tiền 60.000.000 đồng; thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân 12,5%/năm. Lãi suất này sẽ được V chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm; trả nợ gốc: 06 tháng một lần vào ngày 01, mỗi lần trả 10.000.000 đồng, lần cuối cùng trả hết phần còn lại, ngày trả nợ đầu tiên 01/04/2022; trả nợ lãi: 06 tháng một lần, kỳ trả lãi đầu tiên ngày 01/04/2022.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phùng Văn Bình A đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 01/11/2022. Tạm tính đến ngày 17/9/2024, ông Phùng Văn Bình A đã trả cho V số tiền tổng cộng là 491.370.751 đồng (trong đó: nợ gốc 57.536.255 đồng, nợ lãi 433.834.496 đồng) và còn nợ Ngân hàng TMCP Q1 số tiền là: 4.835.663.244 (Bốn tỷ tám trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi bốn) đồng, bao gồm:
Hợp đồng tín dụng số 5870373.21: Nợ gốc: 3.412.487.484 (Ba tỷ bốn trăm mười hai triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn bốn trăm tám mươi bốn) đồng; nợ lãi trong hạn: 78.006.754 (Bảy mươi tám triệu không trăm lẻ sáu nghìn bảy trăm năm mươi bốn) đồng; nợ lãi quá hạn: 1.287.639.519 (Một tỷ hai trăm tám mươi bảy triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn năm trăm mười chín) đồng.
Hợp đồng tín dụng số 5870373.21: Nợ gốc: 39.976.261 (Ba mươi chín triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn hai trăm sáu mươi mốt) đồng; nợ lãi trong hạn: 901.918 (Chín trăm lẻ một nghìn chín trăm mười tám) đồng; nợ lãi quá hạn: 16.651.308 (Mười sáu triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn ba trăm lẻ tám) đồng.
Biện pháp bảo đảm tiền vay: là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 656, tờ bản đồ số: 166, địa chỉ: Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK168849, số vào số cấp GCN: CS21911 do Sở T cấp ngày 05/04/2018, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 23/06/2021 cho ông Phùng Văn Bình A. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 3234, Quyển số: 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 25/06/2021.
Nay Ngân hàng TMCP Q1 khởi kiện và yêu cầu như sau:
- Buộc ông Phùng Văn Bình A phải trả cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền tạm tính đến ngày 17/9/2024 là: 4.835.663.244 (Bốn tỷ tám trăm ba mươi lăm triệu, sáu trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi bốn) đồng, như đã trình bày ở trên.
- Đề nghị Q tòa tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn, phí kể từ ngày 18/9/2024 cho đến khi ông Phùng Văn Bình A thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Trong trường hợp ông Phùng Văn Bình A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 656, tờ bản đồ số: 166, địa chỉ: Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK168849, số vào số cấp GCN: CS21911 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 05/04/2018, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 23/06/2021 cho ông Phùng Văn Bình A. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 3234, Quyền số: 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 25/06/2021 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho V.
- Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của ông Phùng Văn Bình A đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V.
- Đối với chi phí tố tụng VIB đã tạm ứng theo Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 586/TB-TA ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, kính đề nghị Tòa án buộc ông Phùng Văn Bình A có trách nhiệm hoàn trả cho V theo quy định của pháp luật với tổng số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Bị đơn ông Phùng Văn Bình A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng và không có đơn xin vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên ý kiến trình bày như trên.
- Bị đơn ông Phùng Văn Bình A đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Phùng Văn Bình A thanh toán tổng số tiền của các Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 17/9/2024 là 4.835.663.244 đồng. Trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền đề nghị phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 656, tờ bản đồ số 166 tọa lạc tại phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Bình A có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng.
Ông Bình A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
- [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt:
- [3] Về yêu cầu của nguyên đơn:
- [3.1] Về nợ gốc:
- [3.2] Về yêu cầu thanh toán lãi:
- [3.3]. Về thời hạn thanh toán:
- [4] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
- [5] Về yêu cầu:
- [6] Về yêu cầu:
- [7] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
- [8] Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [9] Về án phí:
Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 (gọi tắt là V), Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Do bị đơn ông Phùng Văn Bình A có hộ khẩu thường trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ông Phùng Văn Bình A đã được tống đạt hợp lệ theo qui định của pháp luật nhưng ông A vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông A theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 5870373.21 ngày 24/06/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, có cơ sở xác định ông Phùng Văn Bình A có vay của V số tiền 3.450.000.000 đồng. Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2992771.21 ngày 04/10/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ có cơ sở xác định ông Phùng Văn Bình A có vay của V số tiền 150.000.000 đồng nhưng chỉ mới giải ngân số tiền 60.000.000 đồng.
Tại các Hợp đồng tín dụng tín dụng nói trên giữa Ngân hàng và ông Phùng Văn Bình A quy định về thời hạn trả nợ. Theo quy định, khách hàng trả không đầy đủ, đúng hạn khoản cấp tín dụng theo hợp đồng thì coi là sự kiện vi phạm. Căn cứ khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.
Xét bị đơn ông Phùng Văn Bình A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không tiếp tục trả nợ gốc cho VIB mặc dù đã được VIB thông báo nhắc nợ là đã vi phạm điều khoản thoả thuận giữa các bên theo các hợp đồng tín dụng đã ký. Căn cứ vào quá trình thanh toán gốc của các hợp đồng tín dụng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc Ngân hàng TMCP Q1 khởi kiện ông Phùng Văn Bình A yêu cầu thanh toán nợ gốc tính đến ngày 17/9/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 5870373.21 ngày 24/06/2021 với số tiền 3.412.487.484 và Hợp đồng tín dụng số 2992771.21 ngày 04/10/2021 với số tiền 39.976.261 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Tại Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ các ngày 01/7; 02/7 và 06/7/2021 đối với Hợp đồng tín dụng 5870373.21 ngày 24/06/2021, ngày đến hạn thanh toán là 01/7/2051; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9.30%/năm; lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,7%/năm. Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 06/10/2021 đối với Hợp đồng tín dụng số 2992771.21 ngày 04/10/2021 ngày đến hạn thanh toán là 06/10/2024; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 12,50%/năm; lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm
Tại khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: "Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng", ngoài ra tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: "Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật". Vì Ngân hàng có chức năng hoạt động tín dụng nên lãi suất sẽ do thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Do đó, nguyên đơn căn cứ vào lãi suất thỏa thuận giữa hai bên tại hợp đồng tín dụng, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ để tính lãi là phù hợp quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Xét, do ông Phùng Văn Bình A vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả tiền lãi là có cơ sở chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Phùng Văn Bình A phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 5870373.21 ngày 24/06/2021 và Hợp đồng tín dụng số 2992771.21 ngày 04/10/2021 cùng các Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ tạm tính đến ngày17/9/2024 là 4.835.663.244 (bốn tỷ tám trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi bốn) đồng (trong đó nợ gốc là 3.452.463.745 (ba tỷ bốn trăm năm mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi lăm) đồng; nợ lãi trong hạn là 78.908.672 (bảy mươi tám triệu chín trăm lẻ tám nghìn sáu trăm bảy mươi hai) đồng; nợ lãi quá hạn là 1.304.290.827 (một tỷ ba trăm lẻ bốn triệu hai trăm chín mươi nghìn tám trăm hai mươi bảy) đồng.
Xét Ngân hàng yêu cầu ông Phùng Văn Bình A phải thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc và lãi một lần ngay sau khi án có hiệu lực. Do ông Phùng Văn Bình A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng nên yêu cầu của ngân hàng là có cơ sơ chấp nhận.
Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số SC 21911 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 05/04/2018, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 23/06/2021 cho ông Phùng Văn Bình A thì ông Phùng Văn Bình A là chủ sở hữu đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 656, thuộc tờ bản đồ số 166, tọa lạc tại phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét, theo quy định của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 670.2368545.21 ngày 25/6/2021 thì ông Phùng Văn Bình A có nghĩa vụ giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP Q1 để xử lý theo quy định pháp luật. Vì vậy, yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mãi tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 656, thuộc tờ bản đồ số 166, tọa lạc tại phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nếu đến hạn mà ông Phùng Văn Bình A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là phù hợp quy định tại Điều 299, khoản 6 Điều 320, khoản 2 Điều 324 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận.
Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của ông Phùng Văn Bình A đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V. Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS21911 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 05/4/2018, được cập nhật sang tên cho ông Phùng Văn Bình A và Chứng thư thẩm định giá ngày 27/5/2021 của Công ty TNHH T1 xác định thửa đất 656, thuộc tờ bản đồ số 166, tọa lạc tại phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là đất trống. Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú cũng xác định tài sản thế chấp là đất trống. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu này của Ngân hàng.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Trường hợp giá trị tài sản đảm bảo sau khi phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 thì ông Phùng Văn Bình A được quyền nhận lại số tiền chênh lệch theo quy định tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2015.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét tại chỗ là 10.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Phùng Văn Bình A phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 6, Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.835.663 đồng.
H lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 52.157.450 đồng cho Ngân hàng TMCP Q1.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 229; khoản 2 Điều 307; khoản 6 Điều 320; khoản 2 Điều 324; Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
- [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1.
- - Buộc ông Phùng Văn Bình A phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 số nợ tạm tính đến ngày 17/9/2024 theo các hợp đồng tín dụng như sau:
- [2]. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Phùng Văn Bình A còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa trả, theo mức lãi suất thỏa thuận tương ứng với Hợp đồng tín dụng số 5870373.21 ngày 24/06/2021; Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ các ngày 01/7; 02/7 và 06/7/2021 và Hợp đồng tín dụng số 2992771.21 ngày 04/10/2021; Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 06/10/2021 cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất tiếp tục thanh toán sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
- [3]. Sau khi ông Phùng Văn Bình A trả hết số nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP Q1 thì Ngân hàng phải giải chấp tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 656, thuộc tờ bản đồ số 166, tọa lạc tại phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật.
- [4]. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Phùng Văn Bình A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 656, thuộc tờ bản đồ số 166, tọa lạc tại phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số SC 21911 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 05/04/2018, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 23/06/2021 cho ông Phùng Văn Bình A) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 670.2368545.21 được công chứng số 3234, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/6/2021 của Phòng C1, việc đăng ký thế chấp được thực hiện hoàn tất tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, để thu hồi nợ.
- [5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Phùng Văn Bình A phải trả cho Ngân hàng số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
- [6] Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Phùng Văn Bình A phải chịu án phí là 112.835.663 (Một trăm mười hai triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi ba) đồng.
- - Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 52.157.450 (Năm mươi hai triệu một trăm năm mươi bảy nghìn bốn trăm năm mươi) đồng cho Ngân hàng TMCP Q1 theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0000167 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
- [7] Quyền kháng cáo:
- [8] Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
Hợp đồng tín dụng số 5870373.21 ngày 24/06/2021 số tiền là 4.778.133.757 (Bốn tỷ bảy trăm bảy mươi tám triệu một trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi bảy) đồng. Trong đó nợ gốc 3.412.487.484 (Ba tỷ bốn trăm mười hai triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn bốn trăm tám mươi bốn) đồng; nợ lãi trong hạn là 78.006.754 (Bảy mươi tám triệu không trăm lẻ sáu nghìn bảy trăm năm mươi bốn) đồng; nợ lãi quá hạn 1.287.639.519 (Một tỷ hai trăm tám mươi bảy triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn năm trăm mười chín) đồng.
Hợp đồng tín dụng số 2992771.21 ngày 04/10/2021 số tiền là 57.529.487 (Năm mươi bảy triệu năm trăm hai mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi bảy) đồng. Trong đó nợ gốc 39.976.216 (Ba mươi chín triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn hai trăm mười sáu) đồng; nợ lãi trong hạn là 901.918 (Chín trăm lẻ một nghìn chín trăm mười tám) đồng; nợ lãi quá hạn 16.651.308( Mười sáu triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn ba trăm lẻ tám) đồng.
- Thời hạn thi hành: Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Địa điểm thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Phùng Văn Bình A vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1. Trường hợp giá trị tài sản đảm bảo sau khi phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 thì ông Phùng Văn Bình A được quyền nhận lại số tiền chênh lệch theo quy định tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2015.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Viết Hoàng Lâm |
Bản án số 766/2024/DS – ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 766/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HĐ tín dụng NH - An
