| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 765/2024/DS-PT
Ngày: 16 - 9 - 2024
V/v “tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu
hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu
cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng – Kiểm sát viên.
Ngày 09 và ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 443/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS –ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1033/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị S, sinh năm 1959; địa chỉ: tổ A, ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. (có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Đào Văn T, sinh năm 1975; Địa chỉ K. 09-02 Khu dân cư S, xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Ông Đào Văn H, sinh năm 1970 (có mặt)
- - Bị đơn: Ông Trần Văn Ú, sinh năm 1968; địa chỉ: số nhà E, tổ A, ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương (vắng mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị H1, sinh năm 1953; địa chỉ: số nhà I, tổ B, khu phố C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương (có mặt)
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1957, (vắng mặt)
- Bà Trịnh Thị Bích T1, sinh năm 1968, (vắng mặt)
- Bà Trần Thị G, sinh năm 1963; địa chỉ: số nhà A, tổ C, khu phố C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương (có mặt)
- Bà Trần Thị B, sinh năm 1970; địa chỉ: địa chỉ: số nhà A, ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương (vắng mặt)
- Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh B; địa chỉ: số I, đường C tháng D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt).
Địa chỉ: F - 01, chung cư H, đường D, khu phố E, phường T, Quận G, Tp Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: số nhà E, tổ A, ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Phương T2– Chức vụ: Giám đốc (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Triệu tập thêm người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Văn N (con bà S) và bà Ung Thị O (con bà S)
Địa chỉ: tổ A, ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Người kháng cáo: Nguyên đơn – bà Trần Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Cha mẹ của nguyên đơn là cụ Trần Văn T3, sinh năm 1932, chết năm 2016 và cụ Nguyễn Thị T4, sinh năm 1933, chết năm 2015. Quá trình sinh sống, cụ T3 và cụ T4 có tất cả 06 người con chung gồm: bà Trần Thị H1, sinh năm 1953; bà Trần Thị P, sinh năm 1957; bà Trần Thị S, sinh năm 1959; bà Trần Thị G, sinh năm 1963; ông Trần Văn Ú, sinh năm 1968 và bà Trần Thị B, sinh năm 1970.
Vào khoảng năm 1976, cụ T3 và cụ T4 có khai phá và nhận sang nhượng lại của người khác phần đất với tổng diện tích khoảng 06ha tọa lạc tại ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, tuy nhiên thời điểm nói trên cụ T3 và cụ T4 vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi khai phá và nhận chuyển nhượng phần đất nói trên thì bà S và cụ T3, cụ T4 đã sử dụng trồng cây ngắn ngày và mưu sinh trên phần đất này để nuôi lớn các anh chị em. Đầu năm 1980, bà S lấy chồng và theo chồng về ở tại xã H, huyện (nay là thị xã) Bến Cát sinh sống nhưng được một thời gian ngắn thì chồng của bà S chết và trong năm 1980, bà S chuyển về ở chung với cụ T3 và cụ T4 trên phần đất nói trên. Sau đó, các anh chị em của bà S lần lượt lập gia đình và ra ở riêng và chỉ còn bà S, bà P và ông Ú cùng sống chung với cụ T3 và cụ T4; trồng cây cao su và sinh sống ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp. Tuy nhiên, hộ khẩu của cụ T3 và cụ T4 vẫn ở ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương và chưa có ai chuyển khẩu về ấp L.
Ngày 07/8/2003, Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01762QSDĐ/PG cho hộ cụ Trần Văn T3, được quyền sử dụng 60.533m² đất tại ấp E, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Năm 2003, vì thương hoàn cảnh của mẹ con bà S nên cụ T3 có cho bà S và ông Ú mỗi người một phần đất (tức mỗi người được khoảng 01ha đất, đo đạc thực tế là 11.269,2m²). Vì có tiếng nói của cụ T3 nên bà S không đòi hỏi giấy tờ gì và yên tâm canh tác trên phần đất mà cụ T3 đã cho.
Năm 1997, bà S xây nhà có diện tích 60m² và cùng với con của bà S sinh sống trên phần đất này. Năm 2004, bà S và vợ chồng ông Ú trồng cây cao su và cùng chăm sóc cây cao su và có thỏa thuận sẽ cùng nhau thu hoạch mủ để sinh sống. Năm 2009, bà S phá bỏ nhà cũ xây dựng lại nhà mới có diện tích khoảng 200m². Năm 2015, cụ T4 chết; năm 2016, cụ T3 chết, trong thời gian cụ T3 bị bệnh, năng lực không được đảm bảo nên ông Ú đã im lặng kêu cụ T3 chuyển quyền sử dụng đất cho ông Ú. Hiện tại, bà S vẫn ở trên căn nhà mà bà S xây năm 2009 nhưng cây cao su thì bà S không được thu hoạch mủ mà ông Ú thu hoạch một mình.
Hiện tại toàn bộ khoảng 06ha đất của cụ T3 và cụ T4 để lại đã được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02661 ngày 25/11/2013, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02662 ngày 25/11/2013, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02664 ngày 25/11/2013 cho ông Trần Văn Ú dựa trên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được ký kết giữa cụ Trần Văn T3, cụ Nguyễn Thị T4 với ông Trần Văn Ú đã được Ủy ban nhân dân xã V công chứng số 95, quyển số 01/2012 TP/CC-STP/HĐ ngày 10/10/2012.
Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:
- Yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được ký kết giữa cụ Trần Văn T3, cụ Nguyễn Thị T4 với ông Trần Văn Ú đã được Ủy ban nhân dân xã V công chứng số 95, quyển số 01/2012 TP/CC-STP/HĐ ngày 10/10/2012 vô hiệu.
- Yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02661 do UBND huyện P cấp ngày 25/11/2013 cho ông Trần Văn Ú, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02662 do UBND huyện P cấp ngày 25/11/2013 cho ông Trần Văn Ú, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02664 do UBND huyện P cấp ngày 25/11/2013 cho ông Trần Văn Ú.
- Yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn T3 để lại đối với phần đất có diện tích 526,6m², thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 09; phần đất diện tích 41.574,4m², thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ số 39; phần đất có diện tích 11.268,7m² thuộc các thửa đất số 284, 286, 290, 291, 292, 293, 294, 295, 296, 297, 298, 299, 304, 305, 306, 307, 308, 309, 310, 311, 312, 313, 314, 315, 316, 319, 320, 321, 323, 324, 325, 331, 332, tờ bản đồ 02 cùng tọa lạc tại xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, nguyên đơn đề nghị nhận bằng hiện vật.
Nguyên đơn thống nhất với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/5/2018 và ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo; Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện P ngày 19/4/2019, ngày 26/3/2021; Mảnh trích lục địa chính ngày 18/6/2018, 26/6/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P cung cấp và không yêu cầu Tòa án định giá lại tài sản đang tranh chấp.
- Bị đơn ông Trần Văn Ú trình bày: Bị đơn đồng ý với ý kiến của nguyên đơn về quan hệ huyết thống. Toàn bộ các tài sản nói trên có nguồn gốc của cha mẹ bị đơn là cụ Trần Văn T3, cụ Nguyễn Thị T4 để lại. Tuy nhiên, tất cả các tài sản này cụ T3 và cụ T4 đã tặng cho bị đơn, việc tặng cho là đúng với quy định của pháp luật và bị đơn đã được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02661 ngày 25/11/2013, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02662 ngày 25/11/2013, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02664 ngày 25/11/2013. Do đó, trước toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý. Bị đơn chỉ đồng ý cho ở trên đất chứ không tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị đơn thống nhất với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/5/2018 và ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo; Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện P ngày 19/4/2019, ngày 26/3/2021; Mảnh trích lục địa chính ngày 18/6/2018, 26/6/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P cung cấp và không yêu cầu Tòa án định giá lại tài sản đang tranh chấp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1, bà Trần Thị G thống nhất trình bày: Bà H1, bà G là con của cụ Trần Văn T3, cụ Nguyễn Thị T4. Bà H1, bà G thống nhất với trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các tài sản tranh chấp trong vụ án là di sản của cụ Trần Văn T3, cụ Nguyễn Thị T4 để lại nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu chia thừa kế thì bà H1, bà G yêu cầu nhận tài sản bằng hiện vật.
Bà H1, bà G thống nhất với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/5/2018 và ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo; Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện P ngày 19/4/2019, ngày 26/3/2021; Mảnh trích lục địa chính ngày 18/6/2018, 26/6/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P cung cấp và không yêu cầu Tòa án định giá lại tài sản đang tranh chấp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Phúc trình B1: bà P là con của cụ Trần Văn T3, cụ Nguyễn Thị T4. Bà P thống nhất với phần trình bày của bị đơn ông Trần Văn Ú và không bổ sung ý kiến gì thêm. Trường hợp Tòa án chia di sản thừa kế thì bà P xin không nhận kỷ phần của mình được hưởng mà giao kỷ phần của bà P được hưởng cho ông Trần Văn Ú.
Bà P thống nhất với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/5/2018 và ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo; Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện P ngày 19/4/2019, ngày 26/3/2021; Mảnh trích lục địa chính ngày 18/6/2018, 26/6/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P cung cấp và không yêu cầu Tòa án định giá lại tài sản đang tranh chấp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B trình bày: bà B không có yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T3 và cụ T4 chết đã tặng cho ông Trần Văn Ú và có đơn ghi ngày 24/8/2022, xin xét xử vắng mặt trong phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, bà B cam kết không có thắc mắc, khiếu nại gì đối với vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Bích T1 trình bày: Bà T1 là vợ của ông Trần Văn Ú. Bà T1 thống nhất với phần trình bày của bị đơn ông Ú, không bổ sung ý kiến gì thêm. Bà T1 thống nhất với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/5/2018 và ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo; Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện P ngày 19/4/2019, ngày 26/3/2021; Mảnh trích lục địa chính ngày 18/6/2018, 26/6/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P cung cấp và không yêu cầu Tòa án định giá lại tài sản đang tranh chấp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Bình Dương trình bày:
Ngày 09/12/2021, UBND huyện P ban hành Quyết định số 966/QĐ-UBND về việc thu hồi đất do ông Trần Văn Ú, thường trú tại ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương đang sử dụng, diện tích đất bị thu hồi 8.048,5m² (đất trồng cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 135, tờ bản đồ số 39, tại xã V, huyện P ,tỉnh Bình Dương để thực hiện dự án giải phóng mặt bằng đường tạo lực B- P- B.
Ngày 23/12/2021, UBND huyện P ban hành Quyết định số 503/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Trần Văn Ú, thường trú tại ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ: 4.271.917.600 đồng, bao gồm: bồi thường, hỗ trợ về đất: 4.075.609.600 đồng và bồi thường, hỗ trợ về cây trồng: 196.308.000 đồng.
Để có cơ sở chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho ông Trần Văn Ú, đề nghị Tòa án xét xử và thông báo kết quả giải quyết cho Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh B biết để thực hiện việc chi tiền bồi thường, hỗ trợ cho đương sự.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện P, tỉnh Bình Dương trình bày:
Trong quá trình UBND huyện P thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng công trình đường tạo lực B- P - Bàu Bàng đoạn qua huyện P có trường hợp của ông Trần Văn Ú là người có đất bị thu hồi, hiện đang tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. UBND huyện P yêu cầu Tòa án sớm đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị S không thay đổi, bổ sung, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông Trần Văn Ú không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn bà Trần Thị S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1 và bà Trần Thị G: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do cụ T3, cụ T4 tặng cho ông Trần Văn Ú ngày 10/10/2012, không có giấy khám sức khỏe của cụ T3 và cụ T4 đã được UBND xã V chứng thực là không đúng quy định pháp luật, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình cụ T3, không cấp cho cá nhân cụ T3, cụ T4 nên UBND huyện P căn cứ giấy tặng cho để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ú là không đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mở thừa kế tài sản của cụ T3, cụ T4 chết để lại cho các người con của cụ T3 như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà S. Ngoài ra, tại phiên tòa ông Ú tự nguyện cho bà S sử dụng phần đất gắn liền với căn nhà của bà S đang sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận sự tự nguyện này của đương sự.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/DS –ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Căn cứ các Điều 147, 233, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 459, các Điều 503, 609 và 610 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 98, 99 Luật Đất đai năm 2013; Quyết định số 12//2023/QĐ-UBND ngày 15/5/2023 của UBND tỉnh B quy định điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị S đối với ông Trần Văn Ú về việc:
- - Yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được ký kết giữa cụ Trần Văn T3, cụ Nguyễn Thị T4 với ông Trần Văn Ú đã được Ủy ban nhân dân xã V công chứng số 95, quyển số 01/2012 TP/CC-STP/HĐ ngày 10/10/2012 là vô hiệu.
- - Yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02661 do UBND huyện P cấp ngày 25/11/2013 cho ông Trần Văn Ú, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02662 do UBND huyện P cấp ngày 25/11/2013 cho ông Trần Văn Ú, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02664 do UBND huyện P cấp ngày 25/11/2013 cho ông Trần Văn Ú.
- - Yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn T3 để lại đối với phần đất có diện tích 526,6m², thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 09; phần đất diện tích 41.574,4m², thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ số 39; phần đất có diện tích 11.268,7m² thuộc các thửa đất số 284, 286, 290, 291, 292, 293, 294, 295, 296, 297, 298, 299, 304, 305, 306, 307, 308, 309, 310, 311, 312, 313, 314, 315, 316, 319, 320, 321, 323, 324, 325, 331, 332, tờ bản đồ 02 cùng tọa lạc tại xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương,
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn Ú cho bà Trần Thị S được quyền sử dụng một phần đất có diện tích: 256,6m² gắn liền 01 căn nhà của bà Nguyễn Thị S1 để ở và sinh sống, trong tổng diện tích đất: 21.389m², tờ bản đồ số 02, tại xã V huyện P, tỉnh Bình Dương, ông Trần Văn Ú được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/11/2013.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25/3/2024, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị hủy bản án sơ thẩm do đã xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và vi phạm thủ tục tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Trần Thị S và đại diện theo ủy quyền là ông Đào Văn T trình bày: Bản án sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng, bản án sơ thẩm đã không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lương Văn N và bà Ung Thị O vào tham gia tố tụng. Ông N sinh ra và lớn lên trên mảnh đất tranh chấp và bà O là vợ của ông N cũng sinh sống tại đây và tạo lập được một số tài sản nhưng cấp sơ thẩm không triệu tập tham gia là ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự.
Bản án sơ thẩm tuyên không khách quan trái quy định pháp luật, cấp giấy chứng nhận cho ông T3 nhưng không đo đạc là không chính xác. Về hợp đồng tặng cho giữa ông T3 và ông T4 trái quy định pháp luật khi đó cả 2 cụ đã hơn 80 tuổi. Đất cấp cho hộ ông T3 nhưng khi hợp đồng tặng cho chỉ có 2 chữ ký của ông T3 và ông T4 không có các chữ ký của thành viên hộ. Từ những căn cứ trên đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đầy đủ, khách quan theo nội dung và chứng cứ của vụ án. Bà Trần Thị S kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu chứng cứ nào mới nên đề nghị bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Theo lời thừa nhận của các đương sự thì phần đất đang tranh chấp có diện tích 60.533m² tọa lạc tại ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương do cha mẹ là cụ Trần Văn T3, cụ Nguyễn Thị T4 tạo lập khi còn sống. Nguyên đơn bà Trần Thị S đã sinh sống cùng cụ T3, cụ T4 trên phần đất từ năm 1980; sau khi cụ T3, cụ T4 chết, bà S cùng con trai vẫn sinh sống trên phần đất cho đến nay.
Đến ngày 07/8/2003 UBND huyện P đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất trên cho hộ của cụ Trần Văn T3. Trong thời điểm này, sổ hộ khẩu gia đình của cụ T3 thể hiện cụ Thế là chủ hộ và các thành viên gồm cụ Nguyễn Thị T4 là vợ, ông Trần Văn Ú là con ruột, bà Nguyễn Thị Bích T5 là con dâu, ông Trần Quốc T6, bà Trần Thị Cúc T7, bà Nguyễn Thị Ngọc T8 là con của ông Ú, bà T5. Bà Trần Thị S không có tên trong sổ hộ khẩu. Tuy nhiên hộ khẩu của cụ T3, cụ T4 cùng ông Ú cũng không ở tại vị trí phần đất tọa lạc là ấp L, xã V mà hộ khẩu của hộ cụ Thế L ở tại ấp V, xã V còn hộ khẩu của bà S cũng ở ấp V (2B) xã V.
Như vậy, nếu căn cứ theo sổ hộ khẩu thì thời điểm năm 2003, cụ T3, cụ T4, ông Ú, bà S đều không có ai cư ngụ tại phần đất đang tranh chấp ấp E, xã V trong khi trên thực tế cụ T3, cụ T4 vẫn cùng các con là bà S, ông Ú... cất nhà, cùng sinh sống trên phần đất.
[2] Vào ngày 10/10/2012, cụ T3, cụ T4 lập hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất trên cho ông Ú, hợp đồng được Ủy ban nhân dân xã V côngsố 95, quyển số 01/2012 TP/CC-STP/HĐ. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hợptặng cho quyền sử dụng đất trên là vô hiệu với lý do UBND xã V chứng thực không đúng quy định pháp luật vì giấynhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình cụ T3, không cấp cho cá nhân cụ T3, cụ T4; tại thời điểm chứng thực, cụ T3, cụ T4 đã già yếu nhưng UBND xã V không có giấykhám sức khỏe của cụ T3, cụ T4.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn liên quan đến quá trình, thủ tục chứng thực của UBND xã V nên trong quá trình giải quyết vụ án cần phải đưa UBND xã V vào tham gia tố tụng để UBND xã có ý kiến về trình tự, thủ tục, căn cứ để chứng thực việc tặng cho quyền sử dụng đất. Việc không đưa UBND xã vào tham gia tố tụng là thiếu sót.
[3] Theo lời trình bày của các đương sự thì từ năm 1980, sau khi chồng bà S chết, bà S cùng con trai là ông Lương Văn N đã về sinh sống cùng cụ T3, cụ T4 tại phần đất đang tranh chấp. Năm 1997, bà S xây nhà có diện tích 60m². Năm 2004, bà S và con trai cùng vợ chồng ông Ú trồng cây cao su và thỏa thuận sẽ cùng nhau thu hoạch mủ để sinh sống. Năm 2009, bà S, ông N phá bỏ nhà cũ, xây dựng lại nhà mới có diện tích khoảng 200m². Hiện nay bà S cùng vợ chồng ông N, bà Ung Thị O đang sinh sống tại căn nhà trên. Ông N có lời trình bày trong quá trình sinh sống trên phần đất, ông N đã có công sức trồng, chăm sóc cây cao su cũng như xây dựng nhà trên đất. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm chưa đưa ông N, bà O là những người đang thực tế sinh sống trên phần đất vào tham gia tố tụng là thiếu sót.
[4] Vào năm 1980, sau khi chồng chết, bà S đã chuyển về sinh sống trên phần đất cùng cụ T3, cụ T4; lúc này ông Ú chỉ mới 12 tuổi. Bà S đã cùng cha mẹ tham gia khai thác, trồng trọt... trên đất để cả gia đình cùng nhau sinh sống. Năm 1997, bà S xây nhà và đến năm 2009 tiếp tục xây sửa lại nhà trên đất. Toàn bộ quá trình xây dựng nhà đều được cụ T3, cụ T4 đồng ý, không ai có ý kiến tranh chấp. Do đó trong quá trình giải quyết vụ án, cần thiết phải xem xét đến công sức của bà S trong quá trình giữ gìn, tôn tạo phần đất.
[5] Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy về thủ tục tố tụng cũng như việc thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[6] Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị S.
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc “Tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết lại theo quy định pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị S không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 765/2024/DS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 765/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị S kiện Ông Trần Văn U về việc “Tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuyên xử 1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị S. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc “Tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết lại theo quy định pháp luật
