Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 764/2024/HNGĐ-ST

Ngày : 12-12-2024

“Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Hoà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Khắc Chung - Ông Nguyễn Ngọc Bờ.

Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Hoàng Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 569/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 707/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 761/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Nương, sinh năm 1988. Địa chỉ thường trú: Tổ 23, khóm Vĩnh Quới, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Khóm Bình An, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Phát, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ 23, khóm Vĩnh Quới, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Võ Thị Nương trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Nương và ông Nguyễn Tấn Phát do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Thạnh Trung (nay là thị trấn Vĩnh Thạnh Trung), huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do không tôn trọng nhau, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng vợ chồng vẫn thường xảy ra bất hoà, không thể giải quyết được, nên ông bà đã ly thân từ tháng 08/2024 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nương yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông Phát.

- Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Võ Ngọc Hân sinh ngày 04/5/2009 và Nguyễn Võ Tấn Tài, sinh ngày 02/03/2016 hiện đang sinh sống cùng ông Nguyễn Tấn Phát, sau khi ly hôn bà Nương đồng ý giao 02 con cho ông Phát tiếp tục nuôi dưỡng, bà Nương không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử ông Nguyễn Tấn Phát trình bày như sau:

Về hôn nhân: Quá trình tiến đến hôn nhân như trình bày của bà Nương, vợ chồng ông có xảy ra bất đồng quan điểm do có một lần (khoảng tháng 8/2024) ông gặp một bé gái học lớp 9 bị hư xe honda nên ông dừng lại hỗ trợ sửa xe thì bà Nương gặp và nghi ngờ ông có tình cảm riêng với bé này. Do đó, sáng hôm sau bà Nương dọn đồ về cha mẹ ruột ở cho đến nay. Ngoài ra, vợ chồng ông không có phát sinh mâu thuẫn gì khác. Ông thấy vợ ông chỉ hiểu nhầm ông chứ không có mâu thuẫn gì khác, do ông vẫn còn thương vợ và mong muốn các con có cha, có mẹ nên ông không đồng ý ly hôn với bà Nương; Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Võ Ngọc Hân sinh ngày 04/5/2009 và Nguyễn Võ Tấn Tài sinh ngày 02/03/2016 hiện đang sinh sống cùng với ông. Nếu như Tòa án xét xử buộc vợ chồng ông ly hôn thì ông có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung, không yêu cầu bà Nương cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Võ Thị Nương vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Tấn Phát vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn khởi kiện cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán được được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nương, cho bà Nương được ly hôn với ông Phát; Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Võ Ngọc Hân sinh ngày 04/5/2009 và Nguyễn Võ Tấn Tài sinh ngày 02/03/2016 cho ông Nguyễn Tấn Phát trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phát không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung không xem xét; Về án phí, quyền kháng cáo đề nghị xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Võ Thị Nương yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con chung đối với ông Nguyễn Tấn Phát. Do đó, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Tấn Phát có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện Châu Phú nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về tài liệu, chứng cứ: Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp cho đương sự. Do đó, Toà án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai, tiếp cận để giải quyết vụ án theo quy định.

[1.4] Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Bà Võ Thị Nương vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Tấn Phát vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Võ Thị Nương và ông Nguyễn Tấn Phát là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Võ Thị Nương:

Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Võ Thị Nương và ông Nguyễn Tấn Phát đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân giữa bà Võ Thị Nương và ông Nguyễn Tấn Phát là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà Võ Thị Nương cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên đã sống ly thân khoảng 04 tháng nay. Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử toà án đã thực hiện thủ tục hoà giải để tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ, ông Nguyễn Tấn Phát không đồng ý ly hôn do vợ hiểu lầm chứ không có mâu thuẫn nhưng bà Võ Thị Nương vẫn quyết tâm ly hôn với ông Nguyễn Tấn Phát. Mặt khác, sau khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử ông Nguyễn Tấn Phát mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏ ông Nguyễn Tấn Phát cũng không còn mong muốn tiếp tục đoàn tụ với bà Võ Thị Nương.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, ông bà đã không còn yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không thể cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Điều này thể hiện ông bà đã không thực hiện được tình nghĩa của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Do đó, ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Nương đối với ông Nguyễn Tấn Phát là phù hợp các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Hội đồng xét xử thấy rằng, trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Võ Thị Nương và ông Nguyễn Tấn Phát có 02 con chung tên Nguyễn Võ Ngọc Hân, sinh ngày 04/5/2009 và Nguyễn Võ Tấn Tài, sinh ngày 02/03/2016. Đối với cháu Nguyễn Võ Tấn Tài có nguyện vọng sống với bà Võ Thị Nương, cháu Nguyễn Võ Ngọc Hân có nguyện vọng muốn sống với cả cha và mẹ. Tuy nhiên, hiện cả hai cháu đang do ông Nguyễn Tấn Phát trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và bà Võ Thị Nương có nguyện vọng giao cả hai con chung cho ông Nguyễn Tấn Phát trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, đồng thời ông Nguyễn Tấn Phát cũng thống nhất trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu. Do đó, nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống, cũng như sự thống nhất ý chí của ông Nguyễn Tấn Phát và bà Võ Thị Nương nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cả hai con chung cho ông Nguyễn Tấn Phát trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử thấy rằng, bà ông Nguyễn Tấn Phát không yêu cầu bà Võ Thị Nương cấp dưỡng nuôi con, bà Võ Thị Nương không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:

Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Võ Thị Nương không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Nguyễn Tấn Phát thống nhất về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí:

Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà Võ Thị Nương phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Nguyễn Tấn Phát không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 80, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Nương đối với ông Nguyễn Tấn Phát. Bà Võ Thị Nương và ông Nguyễn Tấn Phát ly hôn.
  2. Về quan hệ con chung:

    Giao con chung tên Nguyễn Võ Ngọc Hân, sinh ngày 04/5/2009 và Nguyễn Võ Tấn Tài, sinh ngày 02/3/2016 cho ông Nguyễn Tấn Phát trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Võ Thị Nương không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nôm con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

    Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

    Bà Võ Thị Nương phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0006015 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - CCTHADS H.Châu Phú;
  • - UBND TT.Vĩnh Thạnh Trung;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 764/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 764/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger