Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 763/2024/DS-PT

Ngày: 16 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp

đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thúy Cầu

Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 426/2024/TLPT-DS ngày 29/5/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5214/2024/QĐPT ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Thái Thị C, sinh năm 1934 (chết ngày 11/3/2023);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Thái Thị C:

  • Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1965; Có mặt.
  • Ông Đỗ Văn C1, sinh năm 1957; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1959; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Bà Đỗ Thị Ngọc Ử, sinh năm 1980; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đỗ Văn T, ông Đỗ Văn C1, bà Đỗ Thị L, bà Đỗ Thị Ngọc Ử: Luật sư Trần Thị Đ– Văn phòng L2 thuộc đoàn luật sư tỉnh T; Địa chỉ: số B đường C, khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)

  • Ông Đỗ Thanh T1, sinh năm 1974; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Số D, K, A, B, Cần Thơ.

  • Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1964; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  1. Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1965; Có mặt.
  2. Ông Đỗ Văn C1, sinh năm 1957; Có đơn xin xét xử vắng mặt
  3. Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1959; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Bà Đỗ Thị Ngọc Ử, sinh năm 1980; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  1. Ông Đỗ Thanh T1, sinh năm 1974; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Số D, K, A, B, Cần Thơ.

  1. Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1964; Có đơn xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Văn C1, ông Đỗ Thanh T1, bà Đỗ Thị Ngọc Ử, bà Đỗ Thị L, bà Đỗ Thị T2: Đỗ Văn T, sinh năm 1965; Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/10/2024). (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1957. (Có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn E: Bà Nguyễn Thị Thanh P- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1961. Có đơn xin xét xử vắng mặt
  2. Ông Đỗ Văn Đ1, sinh năm 1967. Vắng mặt.
  3. Bà Lê Thị Ngọc T3, sinh năm 1967 (vợ ông Đ1); Vắng mặt.
  4. Bà Đỗ Thị Ngọc C2, sinh năm 1994 (con ông Đ1); Vắng mặt.
  5. Ông Đỗ Nhựt N1, sinh năm 2000 (con ông Đ1); Vắng mặt.
  6. Ông Đỗ Minh T4, sinh năm 1996 (con ông C1); Vắng mặt.
  7. Ông Nguyễn Minh T5, sinh năm 1969; Vắng mặt.
  8. Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1970; Vắng mặt.
  9. Ông Nguyễn Quốc T6, sinh năm 1999; Vắng mặt.
  10. Ông Nguyễn Duy T7, sinh năm 2001 (Con ông T5); Vắng mặt.
  11. Ông Nguyễn Văn T8, sinh năm 1972; Vắng mặt.
  12. Ông Trần Bội H, sinh năm 1974 (vợ ông T8); Vắng mặt.
  13. Ông Nguyễn Hải Đ2, sinh năm 1995 (con ông T8); Vắng mặt.
  14. Ông Nguyễn Đăng Q, sinh năm 2002 (con ông T8); Vắng mặt.
  15. Bà Huỳnh Thị Thanh T9, sinh năm 1968 (vợ ông T10); Vắng mặt.
  16. Bà Đỗ Thị Yến N2, sinh năm 1997 (con ông T); Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn N, ông Đỗ Văn Đ1, bà Lê Thị Ngọc T3, bà Đỗ Thị Ngọc C2, ông Đỗ Minh T4, ông Đỗ Nhựt N1, ông Nguyễn Quốc T6, ông Nguyễn Vì T11, ông Nguyễn Văn T8, ông Trần Bội H, ông Nguyễn Hải Đ2, ông Nguyễn Đăng Q, bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Minh T5, bà Huỳnh Thị Thanh T9, bà Đỗ Thị Yến N2: Ông Đỗ Văn T, sinh năm: 1965. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 13/02/2023). (Có mặt)

  1. Bà Đỗ Thị N3, sinh năm:1959; (Có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh- Do bà Thạch Thị Sa T12- Chủ tịch đại diện (Vắng mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị T13, sinh năm: 1959 (vợ ông E). (Vắng mặt);

Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  1. Bà Phạm Thị Mỹ H1, sinh năm: 1973 (Có mặt);

Địa chỉ: Số D, khóm D, phường C, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Do có kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn E.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Theo đơn khởi kiện của các đồng nguyên đơn bà Thái Thị C, ông Đỗ Văn T, ông Đỗ Thanh T1, bà Đỗ Thị T2, bà Đỗ Thị L, bà Đỗ Thị Ngọc Ử, ông Đỗ Văn C1 trình bày:

Về nguồn gốc hai thửa đất 704, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.711 m² và thửa đất số 188, tờ bản đồ số 42, diện tích 2.677 m², đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh là của ông bà để lại cho ông Đỗ Văn T14 kê khai sử dụng đất từ năm 1983 và có ranh đất ổn định, ông T14 đã cho các đồng nguyên đơn cất nhà ở trên đất trước năm 1975 đến nay, hiện nay trên đất tranh chấp có 08 hộ đang ở gồm hộ ông Đỗ Văn T, hộ ông Đỗ Văn C1, hộ bà Đỗ Thị Ngọc Ử, hộ ông Nguyễn Văn N, hộ ông Nguyễn Văn T8, hộ ông Nguyễn Minh T5, hộ bà Nguyễn Thị N4, hộ ông Nguyễn Văn Đ3. Giáp ranh với hai thửa đất mà các nguyên đơn đang sử dụng là đất của bà Trần Thị N5 (mẹ của ông Nguyễn Văn E). Đến năm 2011 thì nguyên đơn mới biết đất của mình đã bị cấp nhầm cho bà Trần Thị N5, bà N5 biết rõ sự việc này nhưng bà vẫn sang tên cho ông Nguyễn Văn E đứng tên quyền sử dụng đất.

Nay bà N5 đã chết, nguyên đơn có đến gặp ông Nguyễn Văn E để trao đổi thì ông E không đồng ý nên các đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất 704, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.711 m² và thửa đất số 188, tờ bản đồ số 42, diện tích 2.677 m², đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp cho ông Nguyễn Văn E đứng tên quyền sử dụng đất để công nhận hai thửa đất trên cho hàng thừa kế của ông Đỗ Văn T14 và bà Thái Thị C gồm: ông Đỗ Văn T, ông Đỗ Văn C1, bà Đỗ Thị L, Đỗ Thị T2, Đỗ Thị Ngọc Ử, Đỗ Thanh T1.

- Theo đơn khởi kiện phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn E trình bày và có yêu cầu như sau:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông bà ngoại ông E là ông Trần Văn P1 và bà Dương Thị D cho cậu ông E là ông Trần Văn K, khi ấy gia đình ông khó khăn cậu ông mới cho phần đất này cho mẹ ông là Trần Thị N5 vào thời giải phóng ông không nhớ rõ thời gian. Năm 2010 ông được mẹ là Trần Thị N5 cho hai thửa đất 704, loại đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.711 m² và thửa đất số 188, tờ bản đồ số 42, diện tích 2.677 m², loại đất trồng cây lâu năm, cùng tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Trước đây, do nghĩ hộ bà Thái Thị C, ông Đỗ Văn T, ông Đỗ Văn C1, bà Đỗ Thị Ngọc Ử, ông Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Văn T8, ông Nguyễn Minh T5, bà Nguyễn Thị N4, ông Nguyễn Văn Đ3 không có đất ở nên ông bà ông mới cho những hộ này ở nhờ trên hai thửa đất trên, vì vậy khi họ xây dựng nhà cửa ông bà ông không có ngăn cản hay tranh chấp gì nhưng nay họ lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận hai thửa đất 704 và thửa 188 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp cho ông đứng tên quyền sử dụng đất thì ông không đồng ý, ông E có đơn phản tố yêu cầu như sau:

- Đối với thửa đất 704:

  • Yêu cầu hộ bà Thái Thị Chà 1bà Đỗ Thị L, bà Đỗ Thị Ngọc Ử, ông Đỗ Thanh T1 trả lại diện tích đất 315m² trong tổng diện tích 2.711m².
  • Yêu cầu hộ ông Đỗ Văn Tbao gồm bà Huỳnh Thị Thanh T9, bà Đỗ Thị Yến N2 trả lại diện tích đất 198m² trong tổng diện tích 2.711m².
  • Yêu cầu hộ ông Đỗ Văn C1 là ông Đỗ Minh T4 trả lại diện tích đất 152m² trong tổng diện tích 2.711m².
  • Yêu cầu hộ bà Đỗ Thị N3 trả lại diện tích đất 200m² trong tổng diện tích 2.711m².
  • Yêu cầu hộ ông Đỗ Văn Đ1 là bà Lê Thị Ngọc T3, bà Đỗ Thị Ngọc C2, ông Đỗ Nhựt N1 trả lại diện tích đất 928m² trong tổng diện tích 2.711m².

- Đối với thửa đất 188:

  • Yêu cầu hộ ông Nguyễn Văn N trả lại diện tích đất 80m² trong tổng diện tích 2.677m².
  • Yêu cầu hộ ông Nguyễn Minh T5 trả lại diện tích đất 36m² trong tổng diện tích 2.677m².
  • Yêu cầu hộ ông Nguyễn Văn T8 trả lại diện tích đất 82m² trong tổng diện tích 2.677m².

- Ủy ban nhân dân huyện C trình bày tại Công văn số 2322/UBND-KT ngày 07/6/2023: Việc đăng ký kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ quan chuyên môn không có tiến hành khảo sát đo đạc mà dựa trên cơ sở bản đồ địa chính đo vẽ năm 1992 và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, không xác định nguyên nhân thay đổi chủ sử dụng đất giữa tư liệu năm 1983 và năm 1992. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 704,188 thuộc một phần thửa 1188 tờ bản đồ số 8 diện tích 13.610 m² cho hộ bà Trần Thị N5 không có giấy tờ thể hiện các thành viên trong hộ. Việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 704, 188 tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C đã cấp cho ông Nguyễn Văn E Ủy ban nhân dân huyện C không có ý kiến.

- Theo đơn khởi kiện yêu cầu độc lập ngày 15/3/2024 của bà Phạm Thị Mỹ H1: Vào ngày 09/12/2022 ông Nguyễn Văn E và bà Nguyễn Thị T13 có vay của bà Phạm Thị Mỹ H1 300.000.000 đồng, đến ngày 12/02/2023 vay thêm 400.000.000 đồng lãi suất hai bên thỏa thuận 4%/tháng . Đến ngày 19/9/2023 ông Nguyễn Văn E và bà Nguyễn Thị Thu 11 hợp đồng chuyển nhượng cho bà thửa đất 704, loại đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.711 m² và thửa đất số 188, tờ bản đồ số 42, diện tích 2.677 m², loại đất trồng cây lâu năm, cùng tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh để đảm bảo cho khoản vay 700.000.000 đồng thỏa thuận trong vòng 02 tháng không đóng lãi thì bà H1 được quyền sang tên quyền sử dụng đất để thu hồi vốn lãi. Sau khi vay bên ông E có đóng lãi cho bà H1 04 lần bằng 52.000.000 đồng. Nay bà H1 biết được hai thửa đất trên đang tranh chấp mà ông E chuyển nhượng cho bà là vi phạm pháp luật nên bà yêu cầu ông E và bà T13 phải trả lại cho bà số tiền còn lại bằng 648.000.000 ₫ (700.000.000 đồng – 52.000.000 đồng tiền lãi)

Ông Nguyễn Văn E và bà Nguyễn Thị T13 thừa nhận có vay của bà H1 số tiền trên. Nay ông E và bà T13 cũng thống nhất trả cho bà H1 số tiền vay 648.000.000 đồng.

- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Thửa đất 188 và 704 có nguồn gốc là của ông bà nội của các nguyên đơn để lại, năm 1983 ông Đỗ Văn T14 là cha của ông Đỗ Văn T có đăng ký kê khai. Gia đình ông T đã cất nhà ở trên này qua 4 đời. Năm 1992 bà Trần Thị N5 đăng ký kê khai trùm luôn diện đất đất của gia đình ông T sử dụng. Đến năm 2011 gia đình ông T mới biết việc bà N5 kê khai cấp quyền sử dụng đất của gia đình ông nên gia đình ông T mới đi kiện yêu cầu chỉnh lại quyền sử dụng đất. Hai thửa đất này bên gia đình ông E không có sử dụng do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn công nhận diện tích đất các nguyên đơn đang sử dụng các thừa kế của ông Đỗ Văn T14 và bà Thái Thị C để được cấp quyền sử dụng đất. Sau khi được cấp quyền sử dụng đất các nguyên đơn sẽ tự phân chia với nhau.

- Ý kiến của trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn: Hai thửa đất đang tranh chấp bà Trần Thị N5 đăng ký kê khai được cấp quyền sử dụng đất bên các nguyên đơn không có ý kiến, sau đó bà N5 chiếc thửa sang nhượng và tặng cho các con trong đó có một phần của ông E. Vệc cấp quyền sử dụng là đúng pháp luật do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông E buộc các nguyên đơn phải trả lại đất. Trường hợp nguyên đơn có nhu cầu sử dụng đất thì trả giá trị đất cho ông E theo giá đã định bằng 700.000đ/m2.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã tuyên xử:

Căn cứ điều 5, khoản 9 điều 26, điều 34, khoản 3 điều 68, Điều 218, 224, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 170, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ điều 124, Điều 463, Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn ông Đỗ Văn T, Đỗ Thị L, Đỗ Thị Ngọc Ử, Đỗ Thị T2, Đỗ Thanh T1, Đỗ Thị C3.

- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn E.

- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị Mỹ H1.

Tuyên xử:

  1. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 704, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.711m² và thửa đất số 188, tờ bản đồ số 42, diện tích 2.677 m², đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn E đứng tên quyền sử dụng đất vào ngày 23/8/2010.
  2. Giao cho hàng thừa kế thứ nhất của bà Thái Thị C và ông Đỗ Văn T14 được quyền sử dụng các thửa đất 704, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.328,5m² loại đất ở và CLN (trong đó đất ở 696 m², đất cây lâu năm 1.632,5m²) và thửa đất số 188, tờ bản đồ số 42, diện tích 2.667 m², lọai đất cây lâu năm tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Thửa đất số 704, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.328,5m² (ký hiệu B trên sơ đồ);

  • Hướng Đông Bắc dài 44,76 m.
  • Hướng Tây Nam giáp đường đal dài 60,05 m.
  • Hướng Đông giáp thửa 164 dài 49,90 m.
  • Hướng Tây dài 38,13 m.

Thửa 188 tờ bản đồ số 42 diện tích 2.677 m² ( ký hiệu A trên sơ đồ )

  • Hướng Đông Bắc giáp đường Bê tông dài 52,26m.
  • Hướng Tây Nam giáp thửa 204 dài 61,98 m.
  • Hướng Đông giáp thửa 205 dài 38,08 m, giáp thửa 233 dài 7,8 m.
  • Hướng Tây giáp thửa 711 dài 50,55 m.

(Vị trí, tứ cận diện tích đất thể trên sơ đồ khu đất ngày 19/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T).

  1. Hàng thừa kế thứ nhất của ông T14 và bà C có nghĩa vụ đăng ký kê khai diện tích đất nêu trên và phải nộp các lệ phí theo quy định của pháp luật để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  2. Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 19/9/2023 giữa ông Nguyễn Văn E, bà Nguyễn Thị T13 với bà Phạm Thị Mỹ H1 được công chứng số 4668 quyển số 9/2023TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng công chứng Nguyễn Thanh B.
  3. Buộc ông Nguyễn Văn E và bà Nguyễn Thị T13 có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Mỹ H1 648.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi tám triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03/5/2024, bị đơn – ông Nguyễn Văn E kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông E.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người kháng cáo – ông Nguyễn Văn E và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông E cùng trình bày:

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định việc UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp GCN QSDĐ cho bà Trần Thị N5 không đúng pháp luật là không phù hợp, bởi vì: UBND cấp huyện chỉ thực hiện yêu cầu cấp GCN QSDĐ khi người dân có yêu cầu, cơ quan nhà nước có nghĩa vụ tiền hành thẩm định theo quy định pháp luật nếu xét có đủ điều kiện thì mới tiến hành cấp GCN QSDĐ. Hơn nữa các hộ dân bao gồm nguyên đơn đều sinh sống cùng đại phương biết rõ việc bà N5 được cấp GCN QSDĐ. Đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.

Nguyên đơn – có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên cùng trình bày:

Giữ nguyên lời trình bày như ở giai đoạn tố tụng sơ thẩm, đề nghị HĐXX bác kháng cáo của ông E, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn E làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có cơ sở. Tại Tòa án cấp phúc thẩm phía người kháng cáo không đưa ra được tình tiết, chứng cứ nào mới có căn cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn E giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn E làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật là hợp lệ nên đủ điều kiện để thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn E

[3.1] Xác định đối tượng tranh chấp

Phần đất tranh chấp có tổng diện tích 5.005,5m2, trong đó 2.328,5m2 thuộc một phần thửa đất số 704, tờ bản đồ số 1 và 2.677m2 thuộc thửa 188, tờ bản đồ số 42 tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; đã được UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp GCN QSDĐ số CH01052 (thửa 704), CH01053 (thửa 188) cho ông Nguyễn Văn E ngày 32/8/2010.

Phần đất tranh chấp 5.005,5m2 do các ông, bà Đỗ Thị N3, Đỗ Văn Đ1, Đỗ Văn C1, Đỗ Thị Ngọc Ử, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T8, ông Nguyễn Minh T5 đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Trên phần đất tranh chấp có nhà ở của bà Đỗ Thị N3 (116,1m2 thửa 188), ông Đỗ Văn Đ1 (114,5 thửa 188), ông Đỗ Văn C1 (42,5m2 thửa 188), bà Đỗ Thị Ngọc Ử (174,1m2 thửa 188), ông Đỗ Văn T (132m2 thửa 188), ông Nguyễn Văn N (40m2 thửa 704), ông Nguyễn Văn T8 (121,5m2 thửa 704, ông Nguyễn Minh T5 (130,5m2 thửa 704). Ranh giới của phần đất tranh chấp được giới hạn bằng trụ cây, trụ đá.

Phần diện tích còn lại của thửa 704 không tranh chấp là 282,5m2 do ông Nguyễn Văn E quản lý, sử dụng.

[3.2] Về nguồn gốc, quá trình quản lý sử dụng, đăng ký kê khai, cấp GCN QSDĐ

Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc do ông bà để lại cho ông Đỗ Văn T14 cất nhà ở trên đất từ trước năm 1975 đến nay. Trong quá trình quản lý, sử dụng năm 1983 ông Đỗ Văn T14 có đăng ký kê khai. Giáp ranh với phần đất của hộ bà Trần Thị N5 (mẹ ông Nguyễn Văn E).

Năm 1992, bà Trần Thị N5 đăng ký kê khai thửa đất 1188 tổng diện tích 13.610m² trong đó có 5.005,5m2 tranh chấp nhưng trên thực tế, bà N5 không quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp mà vẫn do phía nguyên đơn quản lý, sử dụng.

Ngày 12/9/2007, UBND huyện C cấp GCN QSDĐ số H00007 cho hộ gia đình bà Trần Thị N5 thửa đất số 1188 diện tích 13.610m2 (trong đó có phần diện tích 5.005,5m2 tranh chấp). Tại văn bản số 2322/UBND-KT ngày 07/6/2023 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời cho Tòa án việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Trần Thị N5 không có khảo sát đo đạt mà dự trên bản đồ địa chính đo vẽ năm 1992, không có thông tin giao dịch chuyển từ ông Đỗ Văn T14 sang cho bà Trần Thị N5.

Cuối năm 2007, bà N5 làm thủ tục tách thửa đất 1188 thành 06 thửa: thửa số 2225 diện tích 1.019 m² chuyển nhượng cho Nguyễn Văn T8, thửa số 2226 diện tích 790 m² tặng cho Nguyễn Văn B1, thửa số 2227 diện tích 1.870 m² tặng cho Nguyễn Văn K1, thửa số 2228 diện tích 185 m² chuyển nhượng cho Nguyễn Văn N6, thửa số 2229 diện tích 1.202 m² chuyển nhượng cho Đỗ Văn L1, thửa số 1188 diện tích còn lại 8.544 m² (trong đó có phần diện tích 5.005,5m2 tranh chấp).

Ngày 08/7/2008, bà N5 lập hợp đồng tặng cho ông Nguyễn Văn E thửa đất số 1188 diện tích 8.544 m² (trong đó có phần diện tích 5.005,5m2 tranh chấp). Ngày 14/7/2008, ông Nguyễn Văn E được cập nhật sang tên trên GCN QSDĐ thửa đất số 1188 diện tích 8.544 m². Tại thời điểm bà N5 lập hợp đồng tặng cho ông E thì phần đất tranh chấp vẫn do các ông, bà Tháo Thị C4, Đỗ Thị N3, Đỗ Văn Đ1, Đỗ Văn C1, Đỗ Thị Ngọc Ử, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T8, ông Nguyễn Minh T5 trực tiếp quản lý, sử dụng.

Ngày 09/12/2008. ông E thủ tục tách thửa đất số 2308 (tách ra từ thửa 1188) diện tích 1.151m² chuyển nhượng cho ông Võ Văn A. Diện tích còn lại của thửa 1188 ông E làm thủ tục tách ra 04 thửa: Gồm thửa đất số 702 diện tích 214 m², thửa đất số 703 diện tích 841 m², thửa 704 diện tích 2.711 m², thửa số 188 diện tích 2.677 m².

Ngày 23/8/2010, ông E được UBND huyện C cấp GCN QSDĐ số CH01052 đối với thửa đất số 704, tờ bản đồ số 42 diện tích 2.711m2; GCN QSDĐ số CH01053 đối với thửa đất số 188, tờ bản đồ số 2 diện tích 2.711m2.

Tại biên bản hòa giải ngày 15/7/2011 của Ủy ban nhân dân xã H ông E trình bày thửa đất 704 diện tích 2.711m² và thửa 188 diện tích 2.677 m² không phải là của ông nhưng không biết vì sao Ủy ban nhân dân huyện C lại cấp quyền sử dụng cho ông.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm ông E cho rằng phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình ông E cho phía ông Đỗ Văn Ú (ông nội của ông Đỗ Văn T) ở nhờ từ trước năm 1975, lời trình bày của ông E không được phía nguyên đơn thừa nhận nhưng ông E không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình.

[3.3] Như đã nhận định ở trên đất tranh chấp do phía nguyên đơn và các hộ dân quản lý, sử dụng làm nhà ở trên đất từ trước năm 1975 đến nay và hiện nay phần đất tranh chấp vẫn do phía nguyên đơn và các hộ dân đang trực tiếp quản lý, sử dụng., Trong quá trình quản lý, sử dụng ông Đỗ Văn T14 (cha của các nguyên đơn) có đăng ký kê khai vào năm 1983 và Năm 1992, bà Trần Thị N5 (mẹ của bị đơn) đăng ký kê khai thửa đất 1188 diện 13.610m2 bao trùm phần đất tranh chấp nhưng trên thực tế phần đất vẫn do phía nguyên đơn và các hộ dân quản lý, sử dụng, phía bà N5 không quản lý, sử dụng. Năm 2007, hộ gia đình bà N5 được UBND huyện C cấp GCN QSDĐ thửa 1188 diện tích 13.610m2 nhưng trong quá trình giải quyết vụ án UBND huyện C thừa nhận khi cấp GCN QSDĐ cho hộ bà N5 không tiến hành đo đạc trên thực tế mà cấp GCN cho bà N5 dựa theo bản đồ địa chính vẽ năm 1992, không có thông tin giao dịch chuyển từ ông Đỗ Văn T14 sang cho bà Trần Thị N5. Xét thấy, phần đất tranh chấp do phía nguyên đơn và các hộ dân quản lý, sử dụng từ trước năm 1975 là có quá trình quản lý, sử dụng đất ổn định, lâu dài có ranh giới, mốc giới rõ ràng, UBND huyện C cấp GCN QSDĐ cho hộ bà Trần Thị N5 (sau đó bà N5 tặng cho ông E) nhưng không tiến hành khảo sát đo đạc trên thực tế từ đó cấp GCN QSDĐ cho hộ bà N5 bao trùm luôn phần đất do phía nguyên đơn và các hộ dân đang trực tiếp quản lý, sử dụng là cấp sai đối tượng.

Từ các nhận định nêu trên có cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, khong chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.4] Theo sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 237/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 19/3/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T tể hiện trên phần đất tranh chấp có nhà ở của bà Đỗ Thị N3 (116,1m2 thửa 188), ông Đỗ Văn Đ1 (114,5 thửa 188), ông Đỗ Văn C1 (42,5m2 thửa 188), bà Đỗ Thị Ngọc Ử (174,1m2 thửa 188), ông Đỗ Văn T (132m2 thửa 188), ông Nguyễn Văn N (40m2 thửa 704), ông Nguyễn Văn T8 (121,5m2 thửa 704, ông Nguyễn Minh T5 (130,5m2 thửa 704). Trong vụ án này chỉ có bị đơn – ông Nguyễn Văn E kháng cáo bản án sơ thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng, Viện kiểm sát không có kháng nghị phúc thẩm.

Căn cứ theo quy định tại điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm: “Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị”. HĐXX chỉ có thẩm quyền giải quyết yêu cầu kháng cáo của ông E. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy cần ghi nhận quyền khởi kiện, tách tranh chấp giữa các hộ dân đang ở trên đất và những thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đỗ Văn T14, bà Thái Thị Chà r giải quyết bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

[3.5] Ông Nguyễn Văn E kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nhưng trong quá trình giải quyết theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm ông E không xuất trình được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông E; Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của ông E là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn E không được chấp nhận nên ông E phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên, ông E là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo đúng quy định pháp luật nên ông E được miễn đóng tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn E. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh:
  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn ông Đỗ Văn T, Đỗ Thị L, Đỗ Thị Ngọc Ử, Đỗ Thị T2, Đỗ Thanh T1, Đỗ Thị C3.
  • Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn E.
  • Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị Mỹ H1.

Xử:

  1. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 704, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.711m² và thửa đất số 188, tờ bản đồ số 42, diện tích 2.677 m², đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn E đứng tên quyền sử dụng đất vào ngày 23/8/2010.
  2. Giao cho hàng thừa kế thứ nhất của bà Thái Thị C và ông Đỗ Văn T14 được quyền sử dụng các thửa đất 704, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.328,5m² loại đất ở và CLN (trong đó đất ở 696 m², đất cây lâu năm 1.632,5m²) và thửa đất số 188, tờ bản đồ số 42, diện tích 2.667 m², lọai đất cây lâu năm tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Thửa đất số 704, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.328,5m² (ký hiệB trên sơ đồ);

  • Hướng Đông Bắc dài 44,76 m.
  • Hướng Tây Nam giáp đường đaldài 60,05 m.
  • Hướng Đông giáp thửa 164 dài 49,90 m.
  • Hướng Tây dài 38,13 m.

Thửa 188 tờ bản đồ số 42 diện tích 2.677 m² ( ký hiệu A trên sơ đồ )

  • Hướng Đông Bắc giáp đường Bêtông dài 52,26m.
  • Hướng Tây Nam giáp thửa 204 dài 61,98 m.
  • Hướng Đông giáp thửa 205 dài 38,08 m, giáp thửa 233 dài 7,8 m.
  • Hướng Tây giáp thửa 711 dài 50,55 m.

(Vị trí, tứ cận diện tích đất thể trên sơ đồ khu đất ngày 19/3/2024 của Chi nhánh Vănđăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh).

  1. Hàng thừa kế thứ nhất của ông T14 và bà C có nghĩa vụ đăng ký kê khai diện tích đất nêu trên và phải nộp các lệ phí theo quy định của pháp luật để được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất.
  2. Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 19/9/2023 giữa ông Nguyễn Văn E, bà Nguyễn Thị T13 vớibà Phạm Thị Mỹ H1 được công chứng số 4668 quyển số 9/2023TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng công chứng Nguyễn Thanh B.
  3. Buộc ông Nguyễn Văn E và bà Nguyễn Thị T13 có nghĩa vụ trả cho bà PhạThị Mỹ Hạnh 648.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi tám triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dânsự.

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  2. Các ông, bà Đỗ Văn C1, Đỗ Thị Ngọc Ử, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T8, Nguyễn Minh T5 có quyền khởi kiện những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đỗ Văn T14, bà Thái Thị Chà tranh c quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Tách tranh chấp giữa các ông, bà Đỗ Văn C1, Đỗ Thị Ngọc Ử, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T8, Nguyễn Minh T5 và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đỗ Văn T14, bà Thái Thị Chà r giải quyết bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn E được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; ĐTM.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Đức Toàn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Placeholder

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thúy Cầu

Nguyễn Văn Hùng

Vũ Đức Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 763/2024/DS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 763/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn E. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger