|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG ————————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 762/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11/12/2024
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tuấn và ông Đoàn Văn Hiển.
Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Hoàng Vũ – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 592/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024; Về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 708/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 758/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982 (có mặt).
Nơi cư trú: Tổ H, khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ I, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Bà và ông T chung sống với nhau vào năm 2005, hôn nhân do cha mẹ định đoạt, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V (nay là thị trấn V) theo giấy chứng nhận kết hôn số 600 ngày 31/10/2005. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không còn hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông T có tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài, bà có khuyên can nhiều lần nhưng ông T không chịu sửa đổi nên hôn nhân không còn hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ tháng 02/2015 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không hàn gắn được tình cảm với nhau.
Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân có kéo dài cũng không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.
- Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 04/01/2006 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 12/5/2011. Hiện nay, cháu T1 đang sống cùng với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu T1, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu Đ đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên không yêu cầu Toà án giải quyết,
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Minh T được Toà án tổng đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng không đến Toà án để tham gia các tiến trình tố tụng của Toà án thực hiện theo quy định của pháp luật và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M, cho bà M được ly hôn với ông T. Về con chung: Bà M và ông T có 02 (hai) con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 04/01/2006 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 12/5/2011. Hiện nay, cháu T1 đang sống cùng với bà M. Đồng thời, cháu T1 có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Do đó, đề nghị giao cháu T1 cho bà M được trực tiếp nuôi dưỡng. Bà M không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không đề cập xem xét, giải quyết. Đối với cháu Đ đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên đề nghị không đề cập xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu nên đề nghị không đề cập xem xét, giải quyết. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà M khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung đối với ông T nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là "Tranh chấp ly hôn, nuôi con". Ông T có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Bà M và ông T kết hôn vào năm 2005, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên xét hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, thực tế bà M và ông T đã không còn sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và hiện nay không còn chung sống với nhau. Ông bà đã ly thân từ tháng 02/2015 đến nay nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà M yêu cầu ly hôn do bà không còn tình cảm với ông T, mâu thuẫn trầm trọng trong cuộc sống hôn nhân và bà từ chối hoà giải. Từ đó cho thấy, bà M cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn. Về phía ông T những lần Toà án triệu tập đến để tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và phiên toà thì ông T đều vắng mặt. Điều đó cho thấy, ông T không có thiện chí mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng và không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà M.
Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà M và ông T. Tại biên bản xác minh ngày 06/11/2024 đại diện Ban khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang cho biết quá trình chung sống bà M và ông T có xảy ra mâu thuẫn hay không thì B khóm không rõ.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân giữa ông bà đã thật sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, cho bà M được ly hôn với ông T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú.
[2.2] Về con chung: Bà M và ông T có 02 (hai) con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 04/01/2006 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 12/5/2011. Hiện nay, cháu T1 đang sống cùng với bà M. Đồng thời, cháu T1 có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Ngoài ra, để đảm bảo về sự phát triển mọi mặt của con, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T1 cho bà M được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với cháu Đ hiện nay đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà M không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, giải quyết.
Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật:
Căn cứ vào Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ông T là người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung.
Bà M và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên, các bên hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Bà M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Điều 19, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
- Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Minh T1 cho bà Nguyễn Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu Nguyễn Tấn Đ hiện nay đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên không đề cập xem xét, giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đề cập xem xét, giải quyết.
Bà M và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên, các bên hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006106 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Minh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Cẩm Xuyến |
Bản án số 762/2024/HNGĐ-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 762/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M. - Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Minh T. - Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Minh T1 cho bà Nguyễn Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu Nguyễn Tấn Đ hiện nay đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên không đề cập xem xét, giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đề cập xem xét, giải quyết. Bà M và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên, các bên hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung. - Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập xem xét, giải quyết. - Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006106 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. - Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Minh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.