TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 761/2024/DS-PT Ngày: 13-9-2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Duyên.
Bà Lê Thị Tuyết Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hà - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 752/TLPT-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự số 04/2023/DSST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 496/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Lê Kim L, sinh năm 1976 (có mặt).
Địa chỉ: Số D T, tổ D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1965 (vắng mặt).
- Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1965 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Xuân T: Bà Nguyễn Thị Thanh L1, sinh năm 1989 (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 12/9/2024-có mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện C.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố H (H1)
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Văn T2; chức vụ: Phó phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Ngọc D; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố H-Chi nhánh Đ (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C - D đường Y, phường T, thành phố B.
Địa chỉ: Số 1, Đường B tháng C, Thành phố G, tỉnh Đắk Nông
Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Tiến L2; chức vụ: Phó giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ (Theo văn bản ủy quyền ngày 06/9/2024-vắng mặt).
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Hồ Lê Kim L trình bày:
Năm 2012, bà mua trúng đấu giá một thửa đất với diện tích 123m², loại đất ở tại nông thôn và đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) số BL 285752 ngày 02/8/2012, thửa đất số 502, tờ bản đồ số 18. Vị trí thửa đất cụ thể: Phía Đông giáp đường cấp phối; phía Tây giáp đất nông nghiệp do UBND xã T quản lý; phía Nam giáp đất của ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1; phía Bắc giáp đất của ông C. Đầu năm 2017, bà L đến phát dọn thửa đất để làm nhà thì gia đình ông T, bà T1 đã ngăn cản vì cho rằng phần đất này thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông bà, đã được UBND huyện C cấp năm 2015.
Sau đó, bà L được biết diện tích đất của bà đã bị cấp chồng lần lên diện tích đất của ông T, bà T1. Hiện nay, toàn bộ diện tích của bà L do ông T, bà T1 quản lý, sử dụng nên bà L đã nhiều lần gặp để thương lượng nhưng ông T, bà T1 không trả; Việc tranh chấp được được hòa giải nhưng không được giải quyết.
Do vậy, bà L khởi kiện yêu cầu buộc ông T, bà T1 trả lại diện tích 123m² nêu trên; hủy một phần giấy CNQSDĐ do Sở T cấp đổi ngày 24/11/2021 cho ông T và bà T1 đối với thửa đất số 550, tờ bản đồ số 18, diện tích 100.2m².
Bị đơn, ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là do gia đình ông bà khai hoang năm 1988, khoảng hơn 01ha, đến năm 1998, ông T được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ với diện tích 9.600m², đất cà phê (trích lục bìa trắng), tứ cận như sau: Phía Bắc và phía Tây giáp cánh đồng ruộng, phía Nam giáp đồi (rẫy của ông B), phía Đông giáp đồi không tên (nay là trường học). Sau khi khai hoang thì đến năm 1990 gia đình ông bà canh tác trên đất đó đến nay.
Năm 1999, Nhà nước tiến hành xây dựng Trường C1 đã lấn vào diện tích khoảng 3.000m² của gia đình ông bà mà không được hỗ trợ. Tuy nhiên, gia đình ông bà cũng không có ý kiến gì. Diện tích đất còn lại ông bà tiếp tục canh tác ổn định đến nay. Năm 2015, gia đình ông bà được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ tại các thửa đất số 550, diện tích 5.745m² (trong đó có 400m² đất ở còn lại là đất trồng cây lâu năm); thửa dất số 551, diện tích 4.675m² (đất trồng cây lâu năm) và thửa số 552, diện tích 1.150m² (đất nuôi trồng thủy sản). Năm 2021, gia đình ông bà có chuyển nhượng cho ông Tiến H 02 thửa đất số 551 và số 552, còn lại thửa số 550, diện tích 5.745m² và được Sở T cấp đổi giấy CNQSDĐ ngày 24/11/2021 đứng tên ông T, bà T1.
Ông T, bà T1 khẳng định là không có lấn chiếm đất của bà L. Khi Nhà nước thu hồi đất, bán đấu giá và cấp giấy CNQSDĐ cho bà L thì gia đình ông bà không ký giáp ranh. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Ông T, bà T1 cho rằng trường hợp sau khi đo đạc, lồng ghép nếu diện tích của bà có chồng lấn và thừa so với giấy CNQSDĐ được cấp thì ông bà sẽ trả lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ủy ban nhân dân huyện C trình bày:
Ông T, bà T1 đã được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ số BX 656143 ngày 09/02/2015 đối với diện tích khoảng 11.570m², tại các thửa đất số 550, 551, 552, tờ bản đồ số 18, tại xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Về nguồn gốc được cấp là khai hoang và sử dụng đất ổn định từ năm 1992. Về trình tự thủ tục cấp giấy CNQSDĐ là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Như vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của bà L về việc hủy một phần giấy CNQSDĐ ngày 09/02/2015 thì đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo quy định và đúng theo thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013.
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng H2 trình bày: Ngày 06/4/2022, ông T và bà T1 đã thế chấp tại H3 thửa đất số 550, tờ bản đồ số 18, theo giấy CNQSDĐ số BD 130548 do Sở T cấp đổi ngày 24/11/2021 để vay vốn theo hợp đồng số 13616/22/MN/HĐBĐ. H3 đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích vốn có của H3.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ trình bày:
Theo quy định tại khoản 1, Điều 5 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4, Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; Điều 79 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, ...Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C đã thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và cấp đổi giấy CNQSDĐ đối với thửa đất còn lại sau khi chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1.
Trình tự như sau:
Ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 được UBND huyện C, cấp giấy CNQSDĐ số BX 656143 ngày 09/02/2015 đối với các thửa đất số 550, 551, 552 tờ bản đồ số 18, tổng diện tích 11.570m², đất thuộc xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Ngày 02/11/2021, Chi nhánh Văn phòng Đ nhận được hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất kèm theo cấp đổi giấy chứng nhận của ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T3 đối với các thửa đất số 551, 552, tờ bản đồ số 18, diện tích 5.825m², địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện C do Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả huyện C chuyển đến. Ngày 15/11/2021, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C lập Phiếu chuyển thông tin địa chính số 1337/PCTTĐC về việc xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai chuyển đến Chi cục Thuế khu vực C2 – K để xác định nghĩa vụ tài chính cho người sử dụng đất theo quy định.
Ngày 16/11/2021, Chi cục Thuế khu vực C2 – Krông Nô ban hành thông báo nộp thuế. Cùng ngày, người sử dụng đất thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai. Đến ngày 17/11/2021, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C đã dự thảo giấy chứng nhận và hoàn thiện hồ sơ chuyển đến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ để kiểm tra trình Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ ký cấp giấy chứng nhận. Ngày 24/11/2021, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ ký cấp giấy CNQSDĐ, cụ thể:
Cấp giấy CNQSDĐ số DB 130547 đối với thửa đất số 552, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.152m² đất nuôi trồng thủy sản và giấy CNQSDĐ số DB 130546 đối với thửa đất số 551, tờ bản đồ số 18, diện tích 4.675m² đất trồng cây lâu năm, thuộc thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông cho bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1986, CMND số [...], địa chỉ tại: Thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông;
Cấp giấy CNQSDĐ số DB 130548 đối với thửa đất số 550, tờ bản đồ số 18, diện tích 5.745m² (Trong đó: 400m² đất ở tại nông thôn + 5345m² đất trồng cây lâu năm), thuộc thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông là thửa đất còn lại sau khi chuyển nhượng cho ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1.
Như vậy, trình tự thủ tục giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cấp giấy CNQSDĐ của ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 nêu trên được thực hiện theo quy định của pháp luật. Về trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cấp giấy CNQSDĐ của ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 theo hồ sơ đã cung cấp cho Tòa án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự số 04/2023/DSST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 4B/2023/QĐ-SCBA ngày 12 tháng 9 năm 2023, quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, khoản 1 Điều 39, Điều 143, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; các Điều 50, Điều 52, Điều 107 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 101, Điều 105, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 11 của Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T4 về việc xác định ranh giới thửa đất, lập bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Lê Kim L đối với ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1. Buộc ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 phải trả lại cho bà Hồ Lê Kim L 100,2m² đất, toạ lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông (Tứ cận, tọa độ, vị trí cụ thể theo mảnh trích đo địa chính số 157-2023 ngày 31/5/2023 kèm theo).
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCNQSDĐ số BD 130548, tại thửa đất số 550, tờ bản đồ số 18, do Sở T cấp đổi ngày 24/11/2021 cho ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 đối với phần diện tích đất chồng lấn là 65,3m² (Tứ cận, tọa độ, vị trí cụ thể theo mảnh trích đo địa chính số 157-2023 ngày 31/5/2023 kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 03/10/2023, ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị đơn giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị đơn không đồng ý với lời trình bày của nguyên đơn khi cho rằng bà L thuê người vào phần đất phát cỏ để xây nhà thì mới biết là đất của bị đơn, vì bị đơn là người trực tiếp phát cỏ và biết việc xã đã bán đầu giá đất cho bà L. Bà L được cấp giấy CNQSDĐ năm 2012, nhưng thực tế trước đó thì gia đình bị đơn đã được cấp bìa trắng vào năm 1998. Sau đó, được cấp đổi giấy CNQSDĐ vào năm 2015. Mặc dù, bà L có mua đấu giá thì bà L cũng phải biết đất là của gia đình bị đơn. Không rõ vì sao chính quyền xã lại cấp giấy CNQSDĐ đất có sự chồng lấn cho bà L.
Nguyên đơn trình bày: Không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Về hình thức: Thẩm phán chủ toạ phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 làm trong hạn luật định, đúng hình thức.
Về nội dung: Khi giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện chứng cứ, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông thụ lý vụ án và giải quyết là đúng quy định pháp luật. Ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 kháng cáo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
- [1] Hồ sơ vụ án thể hiện: Bà L được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ lần đầu ngày 02/8/2012, đối với diện tích 123m² thửa 502, tờ bản đồ số 18, tại xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông, nguồn gốc đất do mua trúng đấu giá. Ông T, bà T1 được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ ngày 09/02/2015 đối với diện tích 11.570m², tại các thửa đất số 550, 551, 552, tờ bản đồ số 18, tại xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Ngày 24/11/2021, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy CNQSDĐ cho ông T, bà T1 diện tích 5.745m², thửa 550, tờ bản đồ số 18, tại xã T, huyện C.
- [2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thủ tục đo đạc và xác định diện tích đất tranh chấp là 100,2m² thuộc một phần thửa 550, thửa 502, tờ bản đồ số 18, theo Mảnh trích đo địa chính số 157-2023 ngày 31/5/2023 của Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện C. Các đương sự không có ý kiến về kết quả đo đạc trên nên Tòa án căn cứ để giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
- [3] Nguyên đơn cho rằng bị đơn đã lấn diện tích 100,8m² nên yêu cầu trả lại. Tuy nhiên, bị đơn không đồng ý vì cho rằng đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bị đơn do đã được cấp giấy CNQSDĐ hợp pháp. Xét yêu cầu và trình bày của các đương sự, thấy rằng:
[3.1] Tại Biên bản đấu giá tài sản do Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản, Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông lập ngày 20/6/2012 thể hiện: Bà L đã đấu giá thành lô đất số 01, diện tích 123m², tọa lạc tại thôn D, xã T, huyện C, với giá là 37.300.000 đồng. Ngày 24/7/2012, bà L đã nộp số tiền trên theo quy định, thể hiện tại Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước do Kho bạc nhà nước huyện C lập ngày 24/7/2012. Tại Tờ trình số 1115/TTr-TNMT ngày 02/8/2012 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C về việc cấp giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, có nội dung: Đề nghị UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà L đối với diện tích 123m², loại đất ONT, thửa 502 (thay lô 01), tờ bản đồ địa chính số 18, xã T, huyện C và ngày 02/8/2012, bà L được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 123m², thửa 502 nêu trên.
[3.2] Tại đơn đăng ký cấp giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do ông Nguyễn Xuân T lập ngày 26/12/2014, có nội dung: Ông T, bà T1 đăng ký thửa 550, 551, 552, tờ bản đồ số 18, diện tích 11.570m², nguồn gốc khai phá từ 1992, được UBND xã T xác nhận ngày 29/12/2014. Tại bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất do Văn phòng Đăng ký quyền sử đất huyện C lập năm 2014 (không ghi ngày, tháng), thể hiện: Cạnh phía Nam (giáp ông Nguyễn Văn N) và phía Bắc (giáp bà Phạm Thị N1), được ông N, bà N1 có ký giáp ranh của người sử dụng đất liền kề. Riêng phần giáp thửa 502 của bà L thì để trống là không đúng quy định tại Điều 11 của Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T4 về việc xác định ranh giới thửa đất, lập bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất.
[3.3] Theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C ngày 31/5/2023 thì toàn bộ diện tích 100,2m² tranh chấp được cấp giấy CNQSDĐ chồng lấn giữa thửa 550 và thửa 502. Như vậy, có căn cứ xác định diện tích thửa 550m² trong giấy CNQSDĐ của ông T, bà T1 đã cấp chồng lên thửa 502m² trong giấy CNQSDĐ của bà L.
- [4] Thực tế, sau khi được cấp giấy CNQSDĐ thì bà L không sử dụng đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Thanh L1 là đại diện hợp pháp của ông T xác nhận năm 2013, ông T, bà T1 cho bà L1 một phần đất nhưng khi phát cỏ chuẩn bị làm nhà thì mới biết phần đất này bà L đã được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ. Vì vậy, có căn cứ xác định các đương sự không sử dụng đất trên thực địa. Việc bị đơn cho rằng đã sử dụng đất là không có căn cứ.
- [5] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cung cấp sơ đồ diện tích canh tác (trồng cà phê) do UBND xã T xác nhận năm 1998 để cho rằng đã được cấp giấy CNQSDĐ trước khi bà L được cấp giấy CNQSDĐ thửa 502, thấy rằng:
[5.1] Tại Sơ đồ diện tích canh tác (trồng cà phê) do UBND xã T xác nhận năm 1998 (không ghi ngày, tháng) chỉ có nội dung thể hiện: Ông Nguyễn Xuân T sử dụng diện tích 9.600m², thửa: Độc lập, bản đồ: Độc lập, khu vực: Không tên, kèm theo sơ đồ minh họa thửa đất là hình chữ nhật, không thể hiện vị trí tứ cận thửa đất.
[5.2] Theo Sơ đồ trên thì ông T đăng ký 9.600m² nhưng khi làm đơn xin cấp giấy CNQSDĐ và được nhà nước cấp giấy CNQSDĐ là 11.570m² là không phù hợp với diện tích đăng ký, không phù hợp với hình thể thửa đất.
[5.3] Như vậy, việc bị đơn cho rằng đã được cấp giấy CNQSDĐ tạm trước khi bà L được cấp giấy CNQSDĐ là không có căn cứ.
- [6] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [7] Ông Nguyễn Xuân T, bà Vũ Thị T1 phải chịu án phí phúc thẩm.
- [8] Trong vụ án này, Ngân hàng H1 có ý kiến: Khi có kết quả xét xử hoặc có thay đổi nào liên quan thì đề nghị Tòa án thông báo bằng văn bản cho H1. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm thì H1 không kháng cáo, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ hủy một phần giấy CNQSDĐ thửa 550, diện tích 65,3m² nên không ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; các Điều 50, Điều 52, Điều 107 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 101, Điều 105, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 11 của Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T4 về việc xác định ranh giới thửa đất, lập bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T, bà Vũ Thị T1.
- Giữ nguyên Bản án dân sự số 04/2023/DSST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Lê Kim L đối với ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1.
- Buộc ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 phải trả lại cho bà Hồ Lê Kim L 100,2m² đất, toạ lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông (Tứ cận, tọa độ, vị trí cụ thể theo mảnh trích đo địa chính số 157-2023 ngày 31/5/2023 kèm theo).
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 130548 do Sở T cấp ngày 24/11/2021 cho ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 tại thửa đất số 550, tờ bản đồ số 18, đối với phần diện tích đất chồng lấn là 65,3m² (Tứ cận, tọa độ, vị trí cụ thể theo mảnh trích đo địa chính số 157-2023 ngày 31/5/2023 kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 phải chịu 9.204.000 đồng. Do bà Hồ Lê Kim L đã nộp tạm ứng nên buộc ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1 phải trả lại cho bà Hồ Lê Kim L số tiền 9.204.000 (Chín triệu, hai trăm lẻ bốn nghìn) đồng.
- Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1, mỗi đương sự phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Bà Hồ Lê Kim L không phải chịu và được trả lại 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 000168, ngày 30/9/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
- Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị T1, mỗi đương sự phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0000015 ngày 12/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông, ông T, bà T1 đã nộp đủ.
- Án phí sơ thẩm:
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đức Phương |
Bản án số 761/2024/DS-PT ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 761/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
