|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 761/2023/DS-PT Ngày 02 – 11 – 2023 V/v Tranh chấp về quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hồng
Bà Trần Thị Hòa Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Hiển, bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 tháng 10 và ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 298/2023/TLPT-DS ngày 25 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2142/2023/QĐ-PT ngày 07/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ơ, sinh năm 1946 (chết ngày 20/9/2022);
- Ông Trần Bình T, sinh năm 1969;
- Bà Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1970;
- Bà Trần Thị Hồng V, sinh năm 1972;
- Bà Trần Thị Tuyết L, sinh năm 1973;
- Ông Trần Văn H, sinh năm 1975;
- Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1976;
- Ông Trần Đức T1, sinh năm 1977;
- Ông Trần Công T2, sinh năm 1979;
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị H1 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bà Trần Thị T4, sinh năm 1973;
- Ông Trần Văn H2, sinh năm 1967;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Mạnh H3, sinh năm 1969; (có mặt)
- Ông Nguyễn Xuân T5, sinh năm 1978; (có mặt)
- Ông Triệu Văn H4, sinh năm 1982;
- Bà Nguyễn Thị Kim Y, sinhh năm 1976;
- Chị Nguyễn Thị Thanh T6, sinh năm 1984;
- Ông Trần Công T2, sinh năm 1979 (có mặt) và bà Phạm Thị H5, sinh năm 1981 (có mặt);
- Ông Nguyễn Đình T7, sinh năm 1975 và bà Lê Thị Thu S, sinh năm 1977 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Anh Phạm Phi L2, sinh năm 1997;
- Anh Phạm Phi H6, sinh năm 1996;
- Ông Ngô Sách T8, sinh năm 1962 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H;
- Văn phòng công chứng Nguyễn Đức T9 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Văn phòng công chứng Phan Thị B (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Người kháng cáo:
- Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Nguyễn Thị Ơ: Ông Trần Văn H, bà Trần Thị Hồng V, ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Tuyết L, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2;
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4, ông Ngô Sách T8.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Ơ:
Địa chỉ: Xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Số I E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Xã H, huyện H, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp của ông T, bà N, bà V, bà L, ông H, bà C, ông T1, ông T2: Ông Huỳnh Văn T3, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số A, đường T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng là người đại diện theo ủy quyền (được ủy quyền theo các văn bản ủy quyền ngày 26, 27 và 28 tháng 12 năm 2022, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Phương Đại Nghĩa 1 Luật sư của Công ty L5 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L.
Địa chỉ liên lạc: Số A, đường N, khu phố D, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ liên lạc: Số C, thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Số C, đường A, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp của ông T5, ông H4: Ông Nguyễn Mạnh H3, sinh năm 1969; địa chỉ: Số C, đường A, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là người đại diện theo ủy quyền (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 08 tháng 6 năm 2020, có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H3, ông H4, ông T5: Ông Nguyễn Đức N1 và ông Vũ L1 là Luật sư của Công ty L6 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).
Địa chỉ: Số C, thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Số A, đường N, khu phố B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Số C, đường L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Số A, đường N, Tổ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ liên lạc: Số E, Quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Số C, Quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: số E, Quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/6/2020 của bà Nguyễn Thị Ơ, lời trình bày tại các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Ơ và ông Huỳnh Văn T3 là người đại diện theo ủy quyền của bà Ơ và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Ơ gồm ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Hồng V, bà Trần Thị Tuyết L, ông Trần Văn H, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2 trình bày:
Năm 1965, vợ chồng ông N2, bà Ơ có khai phá diện tích đất 777,5m², thuộc thửa 96 (175 gốc), tờ bản đồ số 56 (2013), tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Năm 2017, bà Ơ đo vẽ lại diện tích đất để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện diện tích đất thuộc thửa 96 (175 gốc); nay là thửa 537, 538, 539, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác, cụ thể:
- - Thửa 537, tờ bản đồ số 40, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088484 ngày 31/7/2007 cho bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Văn Đ.
- - Thửa 538, tờ bản đồ số 40, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088483 cho ông Phạm Tấn L3, bà Trần Thị T4 ngày 31/7/2007. Sau đó, vợ chồng ông L3, bà T4 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4.
- - Thửa 539, tờ bản đồ số 40, xã N, Đ, Lâm Đồng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn H2.
Diện tích đất nói trên gia đình bà Ơ khai phá, sử dụng ổn định từ năm 1965 cho đến nay, quá trình sử dụng do nhà ở bị hư hỏng nên bà Ơ đã sửa chữa và bị Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính về hành vi xây dựng công trình tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ (lộ giới Quốc lộ B) tại Quyết định xử phạt hành chính số 08/QĐ-VPVPHC ngày 19/11/2018. Bà Ơ đã làm đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng nhiều lần nhưng hòa giải không thành.
Do vậy nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Công nhận diện tích đất 777,5m², thuộc thửa 96 (175 gốc), tờ bản đồ số 56 (2013) tại xã N, Đ, Lâm Đồng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Ơ, trong đó: thửa 537 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho vợ chồng ông Đ, bà H1 đối với diện tích 319,7m², thửa 537, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; thửa 538 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho vợ chồng ông L3, bà T4 đối với diện tích 526,5m², thửa 538, tờ bản đồ số 37; thửa 539 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Trần Văn H2 đối với diện tích 149m², thửa 539, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- - Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088484 cấp cho bà Nguyễn Thị H1, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088483 cấp cho ông Phạm Tấn L3, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088475 cấp cho ông Trần Văn H2.
- - Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H1 và vợ chồng ông Nguyễn Đình T7, bà Lê Thị Thu S ngày 10/10/2017; hủy việc cập nhập tại trang IV của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088484 sang tên cho vợ chồng ông T7, bà S; hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5246/19MN/HĐBĐ giữa vợ chồng ông T7, bà S và Ngân hàng Thương mại cổ phần P, Chi nhánh L7 ngày 11/3/2019 đối với diện tích quyền sử dụng đất 319,7m², thuộc thửa 537, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông L3, bà T4 và ông H3, ông T5, ông H4 ngày 17/3/2017, hủy việc cập nhập tại trang IV của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088483 sang tên cho ông H3, ông T5, ông H4 đối với diện tích quyền sử dụng đất 526,5m², thuộc thửa 538, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông H2, bà Y và ông Ngô Sách T8 ngày 07/4/2017, hủy việc cập nhập tại trang IV của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088476 cho ông T8 đối với diện tích quyền sử dụng đất 149m², thuộc thửa 539, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Theo lời trình bày của bà Trần Thị T4 thì:
Vợ chồng ông, bà là chủ sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088483 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 cho bà và ông L3 đối với diện tích 1.107m² thuộc thửa 538, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nguồn gốc đất do ông L3 nhận chuyển nhượng của người khác, bà chỉ nghe ông L3 nói chứ bà không biết diện tích đất cụ thể ở đâu. Ngày 17/4/2015, bà và ông L3 ly hôn theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 57/2015/QÐST-HNGĐ ngày 17/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
Đối với diện tích đất 1.107m², thửa 538, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì ngày 17/3/2017 ông L3 và bà đã ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4, hợp đồng được Văn phòng C1 chứng thực ngày 17/3/2017, số tiền chuyển nhượng cụ thể bao nhiêu thì bà không biết, toàn bộ tiền chuyển nhượng diện tích đất trên do ông L3 nhận. Lý do bà ký vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà và ông L3. Bà và ông L3 đã phân chia tài sản chung tại Quyết định thuận tình ly hôn, diện tích đất này bà và ông L3 không trình bày trong Quyết định ly hôn mà tự thỏa thuận phần diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của ông L3 nên khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông L3 là người trực tiếp nhận tiền chuyển nhượng, bà chỉ ký để hợp thức hóa giấy tờ.
Sau khi chuyển nhượng đất đến tháng 6/2017 ông L3 chết, gia đình không làm giấy chứng tử cho ông L3. Giữa bà và ông L3 có 02 con chung là Phạm Phi L2, sinh năm 1997 và Phạm Phi H6, sinh năm 1996. Về con chung do bà trực tiếp nuôi dưỡng theo Quyết định ly hôn. Nay bà Ơ khởi kiện yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bà và các con không liên quan gì đến đất tranh chấp, đề nghị không đưa các con của bà vào tham gia tố tụng trong vụ án.
Theo lời trình bày của vợ chồng ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị Kim Y thì:
Trước đây vợ chồng ông, bà là chủ sử dụng đất diện tích thuộc thửa 539, tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nguồn gốc đất do vợ chồng ông, bà nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Ngọc T10, ngày 07/6/2007 vợ chồng ông, bà được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088475 đối với diện tích 367m² (trong đó có 109m² đất ở và 258m² đất nông nghiệp), tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng diện tích đất nói trên thì vợ chồng ông, bà và ông Đ, ông L3 nhận chuyển nhượng chung, sau đó làm thủ tục tách thửa và được cấp 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác nhau, thời điểm nhận chuyển nhượng đất hiện trạng đất có trồng cây tre, cây cà ri, vợ chồng ông, bà không biết ai là người trồng. Sau khi nhận chuyển nhượng đất vợ chồng ông, bà đã san lấp mặt bằng, cải tạo lại đất thì có người đến tranh chấp nhưng vợ chồng ông, bà không nhớ là ai, vợ chồng ông, bà có thỏa thuận để lại một phần diện tích đất nhưng người tranh chấp không đồng ý nên vợ chồng ông, bà để hiện trạng đất trống, sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông, bà không sử dụng, sau đó thì vợ chồng ông, bà đã chuyển nhượng đất cho người khác, vợ chồng ông, bà không nhớ số tiền chuyển nhượng. Đối với việc nguyên đơn khởi kiện thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Theo lời trình bày của ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4 (ông H3 là người đại diện theo ủy quyền của ông T5 và ông H4) thì:
Các ông nhận chuyển nhượng diện tích đất thửa 538, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng của vợ chồng ông Phạm Tấn L3, bà Trần Thị T4, các ông đã trả đủ tiền chuyển nhượng và nhận đất để sử dụng trồng cỏ voi. Khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng được Văn phòng công chứng Nguyễn Đức T9 chứng thực đúng theo quy định của pháp luật và được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cắm mốc theo hồ sơ thửa đất, các ông đã được cơ quan có thẩm quyền sang tên biến động tại trang IV của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nói trên. Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì bà Nguyễn Thị Ơ thuê người đào hố đất để chôn cột xi măng, có ý định xây nhà trên diện tích đất của các ông nhận chuyển nhượng, các ông đã làm đơn gửi đến Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xử lý; Ủy ban nhân dân xã N đã lập biên bản và yêu cầu cắt bỏ tháo dỡ trả lại hiện trạng ban đầu, sau đó bà Ơ lại tiếp tục thuê người cho máy múc để tiếp tục xây dựng trên đất và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng lập biên bản. Các ông nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông L3, bà T4 được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, việc nhận chuyển nhượng đất hợp pháp, ngay tình.
Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị H1 thì:
Năm 2007, vợ chồng bà có nhận chuyển nhượng một lô đất thuộc thửa 537, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khi chồng bà chưa mất thì mọi giao dịch giấy tờ đều do chồng bà thực hiện, đến tháng 8/2010 chồng bà chết, đến tháng 10/2016 con bà chết, đến năm 2017 bà đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông Nguyễn Đình T7, bà Lê Thị Thu S. Do vậy nay bà không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo lời trình bày của vợ chồng ông T9, bà H5 thì:
Ông, bà là con trai, con dâu của bà Nguyễn Thị Ơ, là người trực tiếp sử dụng đất từ trước đến cha, mẹ già yếu nên vợ chồng ông, bà là người trực tiếp trồng cây cà ri, cây măng, tre, chuối trên đất. Năm 2018, do nhà bị hư hỏng nên vợ chồng ông, bà đã sửa chữa và bị Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ lập biên bản xử lý vi phạm hành chính do xây dựng nhà tạm trên phần đất thuộc lộ giới; vợ chồng ông, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Ơ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo lời trình bày của vợ chồng ông Nguyễn Đình T7, bà Lê Thị Thu S thì:
Ngày 10/10/2017, vợ chồng ông, bà nhận chuyển nhượng diện tích quyền sử dụng đất 546m², thửa 537, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng của bà Nguyễn Thị H1, tại thời điểm nhận chuyển nhượng đất thì ông Đ đã chết, bà H1 đã thực hiện thủ tục thừa kế và đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, giá nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vợ chồng ông, bà không nhớ, Hợp đồng chuyển nhượng được Văn phòng C1 chứng thực ngày 10/10/2017, khi nhận chuyển nhượng thì bà H1 xuống chỉ ranh giới. Sau khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất vợ chồng ông, bà đã trả đủ tiền chuyển nhượng cho bà H1 và nhận đất để sử dụng, nay nguyên đơn trả lại diện tích 319,7m² và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông, bà thì không đồng ý; vợ chồng ông, bà nhận chuyển nhượng hợp pháp và ngay tình. Ngày 11/3/2019, vợ chồng ông, bà đã thế chấp toàn bộ diện tích đất nói trên tại Ngân hàng thương mại cổ phần P, Chi nhánh L7, Phòng G theo Hợp đồng thế chấp số 5246/19MN/HĐBĐ ngày 11/3/2019 được Phòng công chứng số 03 công chứng số 619, quyển số 30TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/3/2019, hiện nay đang duy trì hợp đồng thế chấp nói trên.
Theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Văn phòng công chứng Nguyễn Đức T9 thì:
Ngày 17/3/2017, Văn phòng C1 Nguyễn Đức T9 nhận được yêu cầu của ông Nguyễn Mạnh H3 về việc yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất tọa lạc xã N, huyện Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088483 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 và được công chứng viên tiến hành kiểm tra toàn bộ hồ sơ có liên quan. Qua kiểm tra nhận thấy, hồ sơ người yêu cầu công chứng cung cấp gồm có: đầy đủ giấy tờ tùy thân là chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của bên nhận chuyển nhượng và bên chuyển nhượng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088483 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2017 mang tên ông Phạm Tấn L3, bà Trần Thị Tuyết .
Cùng ngày 17/3/2017, Văn phòng C1 đã tiến hành công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2251, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGD giữa ông L3, bà T4 và ông H3, ông T5, ông H4.
Việc Văn phòng C1 thực hiện việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên là đúng trình tự thủ tục quy định tại Điều 40, 41 Luật Công chứng 2014.
Theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Văn phòng công chúng Phan Thị B thì:
Ngày 10/10/2017, Văn phòng C1, tỉnh Lâm Đồng có thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng của bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng bà Nguyễn Thị H1 và bên nhận chuyển nhượng là vợ chồng ông Nguyễn Đình T7, bà Lê Thị Thu S đối với thửa đất 537, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 088484 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 31/07/2007. Theo Điều 40, 41 của Luật công chứng về trật tự thủ tục yêu cầu công chứng, xét thấy hồ sơ của người yêu cầu công chứng là đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật nên Văn phòng công chứng đã tiến hành thụ lý hồ sơ và thực hiện công chứng theo đúng trình tự thủ tục công chứng và đúng theo quy định của pháp luật đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 3323, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/10/2017.
Theo nội dung của Công văn số 445/UBND ngày 05/3/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì:
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088484 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H1: Ngày 07/6/2007, ông Đ, bà H1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 554797 đối với thửa 535/180m² HNK, tờ bản đồ số 37, xã N và ngày 12/6/2007 ông Đ, bà H1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A1554894 đối với thửa 532/366m² HNK, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, nguồn gốc do nhận chuyển nhượng. Ngày 25/6/2007, ông Đ, bà H1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cho phép chuyển mục đích sử dụng đối với diện tích 282m² từ đất HNK đất ONT thuộc một phần thửa 532, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ theo Quyết định số 1359/QĐ-UBND. Sau đó, ông Đ, bà H1 lập thủ tục hợp thửa đất số 532/336m² (282m² ONT, 84m² HNK) và thửa 535/180m² HNK, tờ bản đồ số 37, xã N Ngày 31/7/2007, ông Đ, bà H1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088484 đối với thỏa 537/546m² (282m² ONT, 264m² HNK), tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình tự thủ tục được cấp đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088483 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 cho ông Phạm Tấn L3, bà Trần Thị T4: Ngày 07/6/2007, ông L3, bà T4 được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI554780 đối với thửa đất số 534/432m² HINK, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Ngọc T10. Ngày 25/6/2007, ông L3, bà T4 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất 400m² từ đất HNK sang đất ONT, thuộc một phần thủa 531, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Quyết định số 1360/QĐ-UBND, sau đó ông L3, bà T4 lập thủ tục hợp thửa đất số 531/675m² (400m² ONT, 275m² HNK) và thửa 534/432m² HNK, tờ bản đồ số 37, xã N thành thửa đất số 538/1.107m² (400m² ONT, 707m² HNK), tờ bản đồ số 37, xã N Ngày 31/7/2007, ông L3, bà T4 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 088483 đối với thửa 538/1.107m (400m² ONT, 707m² HNK), tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, trình tự thủ tục được thực hiện đúng theo quy định.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088476 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 cho ông H2, bà Y, ngày 07/6/2007 ông H2, bà Y được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI554798 đối với thửa 533/180m² HNK, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và ngày 12/6/2007 ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị Kim Y được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI554893 đối với thửa 530/187m² HNK, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Ngọc T10. Ngày 25/6/2007, ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị Kim Y được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất 109m² từ đất HNK sang đất ONT thuộc một phần thửa 530, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Quyết định số 1358/QĐ-UBND. Sau đó ông H2, bà Y lập thủ tục hợp thửa đất số 530/187m² (109m² ONT, 258m² HNK), tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ngày 31/7/2007, ông H2, bà Y được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088476 đối với thửa 539/367m² (109m² ONT, 258m² HNK), tờ bản đồ số 37, xã N, trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định của pháp luật.
Thửa đất số 96 (175 gốc), tờ bản đồ số 56 (2013), xã N tương ứng với một phần diện tích đất thửa số 537, 538, 539, tờ bản đồ số 37 (299), xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AK088483do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp cho vợ chồng ông L3, bà Trần Thị T4 ngày 31/7/2007 thì phần diện tích đất 491m² thuộc lộ giới được công nhận. Đề nghị Tòa án căn cứ hồ sơ có liên quan để xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Theo nội dung của Công văn số 448/CNĐTR ngày 27/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ thể hiện:
Qua đối chiếu bản đồ địa chính thì thửa 96 (175 gốc), tờ bản đồ số 56 (2013) không trùng vị trí thửa 175, tờ bản đồ số 37 (299), tọa lạc tại xã N, huyện Đ, qua kiểm tra sổ mục kê tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thể hiện: Thửa 175, tờ bản đồ số 37 (299) xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn T11 năm 1996, đến năm 2002 đã thu hồi toàn bộ diện tích đất thuộc thửa 175 để xây dựng công trình thủy điện Đ; thửa 96, tờ bản đồ số 56 (2013) thể hiện ông Trần Văn N3 kê khai đăng ký, đối chiếu bản đồ địa chính thì thửa 96, tờ bản đồ số 56 (2013) tương ứng với vị trí thửa đất số 71, tờ bản đồ số 37 (299). Tuy nhiên, ông Nguyễn Ngọc T10 kê khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995, tại đơn đăng ký lưu giữ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thể hiện thửa đất trên không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do thuộc lộ giới đường Quốc lộ 20. Năm 2003, ông T10 chuyển nhượng thửa 71, tờ bản đồ số 37 (299) cho ông L3 (bằng giấy viết tay), cùng năm 2003 ông L3 chuyển nhượng cho ông H2 một phần diện tích đất thửa 71 (180m² tương ứng với thửa 533) chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Đ một phần diện tích thuộc thửa 71 (180m², tương ứng thửa 535), phần diện tích còn lại mang tên ông Phạm Tấn L3 432m², tương đương thửa 534). Việc chuyển nhượng đất từ ông L3 cho ông H2, ông Đ bằng giấy tay.
Về tách thửa: Thửa 71, tờ bản đồ số 37 (299) được tách từ thành thửa 533, 534, 535, tờ bản đồ số 37 (299), xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Năm 2007, ông H2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 533, ông L3 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 534, ông Nguyễn Văn Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 535.
Thửa 72, tờ bản đồ số 37 (299) mang tên ông Nguyễn Ngọc T10 được tách thành các thửa 530, 531, 532, tờ bản đồ số 37 (299), xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ông T10 đã chuyển nhượng thửa 530 cho ông H2, chuyển nhượng thửa 531 cho ông L3, chuyển nhượng thửa 532 cho ông Đ.
Về hợp thửa: Thửa 530 được hợp với thửa 533 thành thửa 539, tờ bản đồ số 37 (299), xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mang tên ông H2, bà Y, năm 2017 bà Y chuyển nhượng cho ông Ngô Sách T8.
Thửa 531 được hợp với thửa 534 thành thửa 538, tờ bản đồ số 37 (299), xã N mang tên ông L3, bà T4.
Thửa 532 được hợp với thửa 535 thành thửa 537, tờ bản đồ số 37 (299), xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mang tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H1, năm 2011 để thừa kế cho bà H1 và anh D, năm 2017 bà H1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Đình T7, bà Lê Thị Thu S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục kháng cáo:
- [2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
- [3] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
- [4] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng nghị, kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận định:
- [4.1] Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng và kháng cáo của bị đơn Trần Thị H7, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngô Sách T8, Nguyễn Mạnh H3, Nguyễn Xuân T5, Triệu Văn H4 đều có cùng nội dung đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- [4.2] Về diện tích, hình thể, vị trí đất tranh chấp:
- [4.2.1] Theo sơ đồ hiện trạng của cấp sơ thẩm thực hiện thì diện tích đất tranh chấp thuộc một phần của các thửa: Thửa 537 có diện tích 376,5m², trong đó có 260,3m² thuộc lộ giới Quốc lộ B, diện tích sử dụng còn lại 116,2m²; Thửa 538 có diện tích 526,2m², trong đó có 455,1² thuộc lộ giới Quốc lộ B, diện tích sử dụng còn lại 71,1m²; Thửa 539 và 102 có diện tích 149m², thuộc lộ giới Quốc lộ B.
- [4.2.2] Vị trí đất: Đất phần lớn thuộc lộ giới Quốc lộ B, còn lại một số ít diện tích đất sử dụng thuộc một phần của các thửa nêu trên.
- [4.2.3] Hình thể phần đất tranh chấp: Theo Biên bản thẩm định tại chổ ngày 06/01/2021 của Tòa án cấp sơ thẩm, hình ảnh các đương sự cung cấp, đo vẽ của cơ quan chức năng thì hình thể đất tranh chấp thuộc vùng đồi nhấp nhô, so với phần đất còn lại trong cùng một thửa ở phía trong không có sự tiếp nối nhau trên địa hình bằng phẳng, mà giữa đất tranh chấp và đất phía trong cách nhau một con suối ngang khoảng 03m và có sự chênh lệch độ cao rất lớn. Phía trước đất tranh chấp tiếp giáp Quốc lộ B, phía sau giáp con suối. Phần còn lại trong thửa không có tranh chấp thì bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan muốn đi vào phải đi theo con đường khác với lộ xi măng 03m.
- [4.2.4] Như vậy, vị trí, hình thể, địa hình phần đất tranh chấp tuy nằm một phần trong các thửa 537, 538, 539 nhưng có sự phân biệt ranh giới rõ ràng. Phía trước đất tiếp giáp Quốc lộ B, phía sau tiếp giáp con suối ngang 03m mới đến đất còn lại không tranh chấp.
- [4.2.5] Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác nhận của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, xác nhận của bị đơn thì các thửa 537, 538, 539 trước đây được hợp thành bởi các thửa khác. Cụ thể: thửa 96, tờ bản đồ số 56 (2013) thể hiện ông Trần Văn N3 kê khai đăng ký, đối chiếu bản đồ địa chính thì thửa 96, tờ bản đồ số 56 (2013) tương ứng với vị trí thửa đất số 71, tờ bản đồ số 37 (299). Tuy nhiên, ông Nguyễn Ngọc T10 kê khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995, tại đơn đăng ký lưu giữ tại Chi nhánh Văn phòng Đ thể hiện thửa đất trên không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do thuộc lộ giới đường Quốc lộ 20. Năm 2003, ông T10 chuyển nhượng thửa 71, tờ bản đồ số 37 (299) cho ông L3 (bằng giấy viết tay), cùng năm 2003 ông L3 chuyển nhượng cho ông H2 một phần diện tích đất thửa 71 (180m² tương ứng với thửa 533), chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Đ một phần diện tích thuộc thửa 71 (180m², tương ứng thửa 535), phần diện tích còn lại mang tên ông Phạm Tấn L3 432m², tương đương thửa 534). Việc chuyển nhượng đất từ ông L3 cho ông H2, ông Đ bằng giấy tay.
- [4.3] Về nguồn gốc đất và việc sử dụng đất:
- [4.3.1] Theo nguyên đơn trình bày: Năm 1965, vợ chồng ông N3, bà Ơ có khai phá diện tích đất 777,5m², thuộc thửa 96 (175 gốc), tờ bản đồ số 56 (2013), tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Diện tích đất nói trên gia đình bà Ơ khai phá, sử dụng ổn định từ năm 1965 cho đến nay, quá trình sử dụng do nhà ở bị hư hỏng nên bà Ơ đã sửa chữa và bị Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính về hành vi xây dựng công trình tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ (lộ giới Quốc lộ B) tại Quyết định xử phạt hành chính số 08/QĐ-VPVPHC ngày 19/11/2018.
- [4.3.2] Tại Công văn số 448/CNĐTR, ngày 27/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng phúc đáp Văn bản số 113/TA-DS ngày 10/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng có nội dung: Thửa 96, tờ bản đồ số 56 (2013) thể hiện tên Trần Văn N3 kê khai đăng ký. Đối chiếu bản đồ địa chính thì thửa 96, tờ bản đồ số 56 (2013) tương ứng với vị trí thửa đất số 71, tờ bản đồ số 37(299), xã N do ông Nguyễn Ngọc T10 kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận năm 1995. Tuy nhiên tại Đơn đăng ký lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thể hiện thửa đất trên không được cấp giấy chứng nhận do thuộc lộ giới đường Quốc lộ 20.
- [4.3.3] Phía nguyên đơn đã cung cấp các giấy tờ xác nhận của những người dân xung quanh, các hộ giáp ranh đất tranh chấp và chính quyền địa phương khi ông Trần Văn N3 còn sống, cụ thể như người giáp ranh đất tranh chấp Cù Thị H8, sinh năm 1947; Vương L4, sinh năm 1965 xác nhận phần đất tranh chấp ông N3, bà Ơ canh tác sử dụng liên tục, ổn định từ trước đến nay.
- [4.3.4] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xứ có căn cứ xác định: Phần đất tranh chấp giữa các bên đương sự có nguồn gốc do gia đình ông Trần Văn N3, bà Nguyễn Thị Ơ khai phá sử dụng liên tục, ổn định. Phần đất này tuy nằm rãi rác một phần trong các thửa đất sau khi hợp, tách các thửa đất với nhau nhưng là một phần đất có phân định rõ ràng, phía trước giáp Quốc lộ B, phía sau giáp con suối, trước đây ông N3 có trồng cây cà phê, sau đó có trồng cây cà ri, cây tre. Do thời điểm trước đây thuộc hành lang lộ giới Quốc lộ 20 nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- [4.4] Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- [4.5] Đối với phần diện tích đất 546m² tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088484 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 mang tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H1, được đăng ký biến động sang tên cho vợ chồng ông Nguyễn Đình T7, bà Lê Thị Thu S ngày 09/5/2017, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
- [5] Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như bản án sơ thẩm đã nhận định.
- [6] Tại cấp phúc thẩm, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Trần Văn H, bà Trần Thị Hồng V, ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Tuyết L, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2; Bị đơn bà Nguyễn Thị H1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4, ông Ngô Sách T8 kháng cáo và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng kháng nghị nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì đặc biệt mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở chấp nhận.
- [7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- [8] Các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Trần Văn H, bà Trần Thị Hồng V, ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Tuyết L, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Cong T13; Bị đơn bà Nguyễn Thị H1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4, ông Ngô Sách T8 làm Đơn kháng cáo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng có quyết định kháng nghị đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 70, Điều 271, Điều 272, Điều 273, Điều 276, Điều 278, Điều 279, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì vụ án có quan hệ tranh chấp: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và giải quyết đúng thẩm quyền được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn vắng mặt; Bị đơn bà Trần Thị H7 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Các bị đơn Trần Thị T4 và Trần Văn H2 vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Sách T8 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, cũng như các đương sự khác có triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Nội dung Kháng nghị cho rằng việc kê khai đăng ký diện tích đất có nguồn gốc do ông Nguyễn Ngọc T10 kê khai đăng ký từ năm 1995 tại thửa số 71, tờ bản đồ số 37, xã N, huyện Đ nhưng do đất này thuộc lộ giới Quốc lộ 20 nên chưa được cấp giấy. Năm 2007 thửa 71 thuộc lộ giới được Nhà nước công nhận nên các ông L3, H2, Đ được công nhận. Trong khi đó ông Trần Văn N3 (chồng nguyên đơn bà Ơ) đăng ký kê khai ở thửa 96, tờ bản đồ 56 (năm 2013). Đối chiếu với hồ sơ địa chính thì thửa 96 tương ứng với thửa 71. Như vậy có sự chồng lấn về vị trí. Nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh, thực tế không canh tác sử dụng, đăng ký kê khai sau và trùng lên thửa đất của các bị đơn đã đăng ký kê khai và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Tòa án cấp sơ thẩm công nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các bị đơn đối với một phần thửa 538 và 539 là không có căn cứ. Mặt khác việc các đương sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thời điểm chuyển nhượng năm 2017 giữa các bên không phát sinh tranh chấp, trên đất không có tài sản gì của nguyên đơn nên theo Điều 133 của Bộ luật Dân sự 2015 thì những người nhận chuyển nhượng đất là người thứ ba ngay tình. Mặt khác có ba hợp đồng chuyển nhượng nhưng một hợp đồng chuyển nhượng thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần P – Chi nhánh L7 nhưng cấp sơ thẩm không tuyên hủy mà chỉ hủy hai hợp đồng chuyển nhượng là có sự mâu thuẩn trong nhận định và đánh giá chứng cứ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì cho rằng họ là người thứ ba ngay tình như nhận định của Kháng nghị trên.
Vì Kháng nghị và kháng cáo đều có chung đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử nhận định, đánh giá chung chứng cứ để xem xét về nội dung kháng nghị và kháng cáo.
Về tách thửa: Thửa 71, tờ bản đồ số 37 (299) được tách thành thửa 533, 534, 535, tờ bản đồ số 37 (299), xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Năm 2007, ông H2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 533, ông L3 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 534, ông Nguyễn Văn Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 535.
Thửa 72, tờ bản đồ số 37 (299) mang tên ông Nguyễn Ngọc T10 được tách thành các thửa 530, 531, 532, tờ bản đồ số 37 (299), xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ông T10 đã chuyển nhượng thửa 530 cho ông H2, chuyển nhượng thửa 531 cho ông L3, chuyển nhượng thửa 532 cho ông Đ.
Về hợp thửa: Thửa 530 được hợp với thửa 533 thành thửa 539, tờ bản đồ số 37 (299), xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mang tên ông H2, bà Y, năm 2017 bà Y chuyển nhượng cho ông Ngô Sách T8.
Thửa 531 được hợp với thửa 534 thành thửa 538, tờ bản đồ số 37 (299), xã N mang tên ông L3, bà T4.
Thửa 532 được hợp với thửa 535 thành thửa 537, tờ bản đồ số 37 (299), xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mang tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H1, năm 2011 để thừa kế cho bà H1 và anh D, năm 2017 bà H1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Đình T7, bà Lê Thị Thu S.
Tại Công văn số 305/TNMT, ngày 24/6/2022 của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G, tỉnh Lâm Đồng phúc đáp Văn bản số 113/TA-DS ngày 10/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng có nội dung: Qua kiểm tra sổ mục kê tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ thì thửa 96, tờ bản đồ số 56 (2013) thể hiện tên Trần Văn N3 kê khai đăng ký, diện tích 777,5m² đất trồng cà phê, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đặc biệt, ông Nguyễn Ngọc Đ1 là con ông Nguyễn Ngọc T10 (đã chết), (ông T10 là người đã được xác nhận đăng ký kê khai năm 1995 sau đó chuyển nhượng lại cho các bị đơn bằng giấy tay và các bị đơn sau khi hợp, tách các thửa đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) có xác nhận nội dung bố ông (ông T10) có bán cho ông Đ và ông L3 một lô đất từ đường bê tông xuống tới khe suối cạn, phần đất từ khe suối cạn tiếp giáp đến lề đường Quốc lộ 20 là phần đất của ông N3 và bà Ơ sử dụng ổn định từ trước đến nay.
Ông Võ Duy T14 nguyên là phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N từ năm 1972 có xác nhận biết rõ lô đất trên (đất tranh chấp) của ông Trần Văn N3 và bà Nguyễn Thị Ơ.
Ông Nguyễn Đình T15, trưởng thôn Đ có xác nhận diện tích đất của ông N3, bà Ơ và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết phần đất của gia đinh ông bà Trần Văn N3.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phần đất tranh chấp ông Nguyễn Ngọc T10 và ông Trần Văn N3 không ai được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, ông T10 có làm giấy tay chuyển nhượng lại cho các bị đơn gồm nhiều phần đất cùng với việc các bị đơn hợp, tách nhiều thửa đất với nhau nên phần đất tranh chấp đã được cấp vào các thửa như đã nêu trên là có sự nhầm lẫn trong thủ tục hành chính. Mặt khác, gia đình ông N3, bà Ơ đang canh tác sử dụng đất tranh chấp mà cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bị đơn mà có người khác đang canh tác sử dụng là không đúng quy định của Luật Đất đai năm 2003 (thời điểm cấp giấy).
Toàn bộ diện tích đất nói trên hiện nay đang được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5246/19MN/HĐBĐ ngày 11/3/2019. Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H không có ý kiến gì đối với việc tranh chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nói trên.
Tại thời điểm thế chấp quyền sử dụng đất thì các bên chưa phát sinh tranh chấp, diện tích đất được sang tên cho vợ chồng ông T7, bà S theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự vô hiệu và Điều 180 về chiếm hữu ngay tình của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc vợ chồng ông T7, bà S thế chấp toàn bộ diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088484 nêu trên được thực hiện trước khi phát sinh tranh chấp và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5246/19MN/HĐBĐ ngày 11/3/2019 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H với vợ chồng ông T7, bà S được Văn phòng công chứng số 03 tỉnh Lâm Đồng chứng nhận theo quy định của pháp luật (số 30 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/3/2019) nên không có cơ sở để hủy hợp đồng thế chấp nêu trên theo yêu cầu khởi kiện cũng như yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Trần Văn H, bà Trần Thị Hồng V, ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Tuyết L, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2; Bị đơn bà Nguyễn Thị H1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4, ông Ngô Sách T8.
Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Căn cứ khoản 3, 9, 11 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, các Điều 157, 161 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 188, 100, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12, các khoản 1, 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ơ; những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Ơ gồm: ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Hồng V, bà Trần Thị Tuyết L, ông Trần Văn H, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2 về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị T4, ông Trần Văn H2.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H1 và vợ chồng ông Nguyễn Đình T7, bà Lê Thị Thu S do Văn phòng công chúng Phan Thị B chứng nhận số 3323, quyển số 03 TP/CC- SCC/HĐGD ngày 10/10/2017 đối với lô đất có diện tích 546m², tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088484 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007;
- Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Phạm Tấn L3, bà Nguyễn Thị T12 và ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4 do Văn phòng công chứng Nguyễn Đức T9 chứng nhận số 2251, quyển số 35 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/3/2017 đối với phần đất có diện tích diện tích 526,5m²; trong đó có 445,1m² đất lộ giới; thuộc một phần thửa 538, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088483 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 mang tên ông Phạm Tấn L3, bà Trần Thị T4;
- Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị Kim Y và ông Ngô Sách T8 do Văn phòng công chứng Nguyễn Đức T9 chứng thực số 3082, quyển số 36 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/4/2017 đối với phần đất có diện tích diện tích 149m² thuộc một phần thửa 539, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088476 do Ủy ban nhân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 mang tên ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị Kim Y.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088483 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp cho ông Phạm Tấn L3, bà Trần Thị T4, đăng ký biến động sang tên cho ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4 ngày 21/4/2017 đối với phần đất có diện tích diện tích 526,5m²; trong đó có 445,1m² đất lộ giới; thuộc một phần thửa 538 tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng;
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088476 do Ủy ban nhân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 mang tên ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị Kim Y, được đăng ký biến động sang tên ông Ngô Sách T8 đối với phần đất có diện tích diện tích 149m² thuộc một phần thửa 539, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088476 do Ủy ban nhân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 mang tên ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị Kim Y, được đăng ký biến động sang tên ông Ngô Sách T8 ngày 20/4/2017.
- Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ căn cứ vào Bản án của Tòa án để giải quyết, xóa điều chỉnh đăng ký biến động đã đăng ký tại trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088483 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp cho ông Phạm Tấn L3, bà Trần Thị T4, đăng ký biến động sang tên cho ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4ngày 21/4/2017 đối với phần đất có diện tích diện tích 526,5m²; trong đó có 445,1m² đất lộ giới; thuộc một phần thửa 538 tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và xóa điều chỉnh đăng ký biến động đã đăng ký tại trang 4 phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK088476 do Ủy ban nhân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 31/7/2007 mang tên ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị Kim Y, được đăng ký biến động sang tên ông Ngô Sách T8 đối với phần đất có diện tích diện tích 149m² thuộc một phần thửa 539, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Buộc ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4 có trách nhiệm trả cho ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Hồng V, bà Trần Thị Tuyết L, ông Trần Văn H, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2 (những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Ơ) lô đất có diện tích 71,4m², thuộc một phần thửa 538 tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Tạm giao cho ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Hồng V, bà Trần Thị Tuyết L, ông Trần Văn H, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2 (những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Ơ) lô đất có diện tích 445,1m² lộ giới thuộc một phần thửa 538 tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để quản lý, sử dụng; khi nhà nước có chủ trương thu hồi thì thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.
- Tạm giao phần đất thuộc lộ giới có diện tích 149m²; trong đó có 138,6m² thuộc một phần thửa 539 tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và 5,2m² thuộc một phần thửa 112, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cho ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Hồng V, bà Trần Thị Tuyết L, ông Trần Văn H, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2 (những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Ơ) sử dụng; khi nhà nước có chủ trương thu hồi thì thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.
- Buộc bà Nguyễn Thị H1 thanh toán cho ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Hồng V, bà Trần Thị Tuyết L, ông Trần Văn H, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2 (những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Ơ) số tiền 4.392.000đ (bốn triệu ba trăm chín mươi hai nghìn).
- Tạm giao phần đất có diện tích 56,8m² thuộc một phần thửa 101, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cho vợ chồng ông T7, bà S sử dụng; khi nhà nước có chủ trương thu hồi thì thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký biến động và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
(Có họa đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn A thực hiện ngày 14/3/2022 kèm theo).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ơ; những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tụng của bà Ơ gồm: ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Hồng V, bà Trần Thị Tuyết L, ông Trần Văn H, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2 về việc “Yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” đối với vợ chồng ông Nguyễn Đình T7, bà Lê Thị Thu S.
Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5246/19MN/HĐBĐ giữa vợ chồng ông Nguyễn Đình T7, bà Lê Thị Thu S và Ngân hàng Thương mại cổ phần P, Chi nhánh L7 ngày 11/3/2019 đối với diện tích quyền sử dụng đất 319,7m², thuộc thửa 537, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn H, bà Trần Thị Hồng V, ông Trần Bình T, bà Trần Thị Tuyết N, bà Trần Thị Tuyết L, bà Trần Thị Kim C, ông Trần Đức T1, ông Trần Công T2, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Mạnh H3, ông Nguyễn Xuân T5, ông Triệu Văn H4, ông Ngô Sách T8 mỗi người chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0012594, 0012591, 0012590, 0012592, 0012597, 0012596, 0012595, 0012593 cùng ngày 02/02/2023; số 0013116 ngày 22/02/2023; số 0012600, 0013101, 0013102 cùng ngày 06/02/2023; số 0013107 ngày 10/02/2023 đều của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Như vậy, các ông bà H, V, T, N, L, C, T1, T2, H1, H3, T5, H4, Thấy đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự
- Các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hồ Tâm Tú |
Bản án số 761/2023/DS-PT ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 761/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
