Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 760/2024/HS-PT

Ngày: 28 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng

Ông Ngô Mạnh Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 459/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn P. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Bị cáo kháng cáo:

NGUYỄN VĂN P1, sinh năm: 1968 tại tỉnh Bình Định. Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn H (đã chết) và bà Tống Thị T (đã chết); V là: Thái Thị Hồng V1 và 04 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ: 15/5/2023; Tạm giam: 16/5/2023.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Hứa Thanh K thuộc Đoàn luật sư tỉnh N (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Gia đình Nguyễn Văn P và gia đình ông Cao Hồng L sinh sống gần nhau tại khu phố D, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Khoảng 06 năm, nghi ngờ ông L bắt trộm gà và bắn bò nhà mình nên giữa P và ông L có mâu thuẫn với nhau. P đã nhiều lần có ý định đánh ông L để trả thù nhưng được bà Thái Thị Hồng V1 là vợ của P can ngăn.

Khoảng 04 giờ 30 phút, sáng ngày 15/5/2023, P ra tập thể dục trước nhà. Sau đó P vào nhà uống 02 ly rượu để giải mỏi. Khoảng 10 phút sau thì P tiếp tục ra trước nhà để tập thể dục. Lúc này, P nhìn thấy ông L đang đứng trước nhà. Nhớ lại mâu thuẫn trước đây, P vào nhà lấy cây rựa bằng kim loại, dài 128cm, cán dài 95cm, đường kính cán 2,3cm, lưỡi dài 33cm, bản rộng 04 cm và đi đến vung rựa chém một nhát vào cổ ông L, làm ông L ngã gục xuống đất. Sau đó P tiếp tục cầm cây rựa đi vào nhà ông L để tìm chém vợ con ông L. Khi vừa vào đến giữa sân thì thấy ông L ôm cổ đang đi vào, P quay ra và cầm rựa bằng hai tay chém nhiều nhát liên tục từ trên xuống trúng vào đầu, lưng, tay của ông L làm ông L ngã gục xuống nền vỉa hè trước cổng nhà ông L. Trong lúc bị P chém, ông L đưa tay phải lên đỡ nên bị P chém đứt bàn tay phải. Sau khi ông L ngã xuống thì P tiếp tục chém cho đến khi ông L không còn cử động. P không nhớ rõ đã chém ông L tổng cộng bao nhiêu nhát, chỉ nhớ là chém liên tục nhiều nhát làm cho ông L bị chảy nhiều máu và bất tỉnh tại chỗ.

Thấy ông L đã bất động, P tiếp tục cầm dựa vào nhà tìm chém vợ con ông L, khi vừa đến trước cửa phòng khách thì thấy anh Cao Thái S đang bưng nồi bánh canh đi ra phía trước nhà bày bán, P cầm rựa bằng tay phải vung lên chém từ trên xuống dưới trúng vào vai trái của anh S. Bị P chém trúng, anh S đã thả nồi bánh canh xuống nền nhà, làm nước nóng bánh canh đổ lên người anh S. Trong lúc anh S quay người bỏ chạy vào phía bên trong nhà thì bị trượt chân té ngã. Lúc này P tiếp tục cầm rựa vung lên chém liên tục nhiều nhát từ trên xuống dưới trúng vào vùng hông trái, hõm nách trái, cánh tay phải, lưng và chân của anh S. P không nhớ rõ đã chém anh S bao nhiêu nhát, chỉ nhớ chém khoảng 5 - 6 nhát. Bị P chém, anh S vừa bò vào trong nhà vừa la hét nên bà Nguyễn Thị Mỹ L1 vợ ông L chạy từ trong nhà bếp ra. Vừa thấy bà L1, P tiếp tục cầm rựa quay sang tấn công bà L1. P cầm rựa bằng tay phải vung lên chém liên tục khoảng nhiều nhát từ trên xuống dưới trúng vào vùng đầu, mặt, vai và tay của bà L1 cho đến lúc bà L1 không còn phản ứng thì P mới dừng tay.

Lúc P quay sang chém bà L1, anh S thừa cơ hội bỏ chạy vào hướng bên trong nhà và thoát ra ngoài bằng cửa sau. Sau khi chém bà L1 xong, P cầm rựa đi vào bên trong nhà bà L1 và ra ngoài bằng cửa sau. Sau đó P đi bộ đến bên hông quán nhậu cách nhà bà L1 khoảng 04 mét rồi đi ra đường L và đi bộ đến Công an thị trấn T để tự thú, đồng thời giao nộp cây rựa đã sử dụng gây án.

2

Bà Nguyễn Thị Mỹ L1 và anh Cao Thái S được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh N, sau đó bà L1 được đưa đi điều trị tại thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra vụ giết người tại trước và trong nhà của ông Cao Hồng L, tại số nhà A đường L, khu phố D, thị trấn T, N, tỉnh Ninh Thuận; phía Bắc giáp nhà số A; phía Nam giáp nhà hoang, tiếp giáp nhà hoang phía Nam là quán ăn lẩu Lan A; phía trước nhà là đường L (Quốc lộ B) trải nhựa có dải phân cách cứng ở giữa. có vỉa hè lót gạch rộng 2,5m; nhà ông L xây tường gạch, xi măng, loại nhà cấp 4 có 01 sân trước, 01 phòng khách; 03 phòng ngủ bên phải hướng từ ngoài vào, đường luồng, bếp bên trái trước nhà vào trong nhà; phía sau là khu vệ sinh, có cửa đi, phía sau (hướng Đ) là đường N.

Tại hiện trường đã ghi nhận và thu giữ các dấu vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt, nhiều vũng màu nâu đỏ dạng đọng và nhiều vết màu nâu đỏ dạng phun, nằm trên vỉa hè đường L và trong nhà của ông L. Trước cửa nhà là tử thi Cao Hồng L nằm ngửa trên vỉa hè đầu quay hướng Tây; chân hướng Đông; tử thi mặc quần dài, không mặc áo, chân phải đi dép nhựa, chân trái không đi dép; phía dưới và xung quanh tử thi có nhiều vũng màu nâu đỏ dạng đọng và nhiều vết màu nâu đỏ dạng phun, dạng nhỏ giọt;

Kết quả khám nghiệm tử thi Cao Hồng L. Tại vùng đầu: Vết thương số 1 bên trái đứt cơ thái dương trái, xương hộp sọ vỡ thành nhiều đường tập trung trên diện: (13x11)cm, hộp sọ chứa nhiều dịch não tủy, có máu loãng lẫn máu đông. Tụ máu dưới màng cứng, não xẹp, tổ chức não dập. Vùng cổ: Vết thương vùng cổ trái đứt 1/3 giữa cơ ức đòn chũm. Đứt bỏ động mạch - tĩnh mạch cảnh và thần kinh trái, đứt sụn nhẫn, vỡ bán phần đốt sống cổ C3 phía trước bên trái. Vùng lưng: Vết thương ngang lưng kích thước: (25x5)cm thấu vào phổi, phổi trái xẹp, rách thùy dưới phổi trái sâu 1,5cm, xung huyết thùy dưới phổi, lồng ngực chứa ít máu loãng lẫn máu đông.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 60/KLGĐTT-TTGĐYK-PY ngày 29/5/2023 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N kết luận: Nguyên nhân chết của ông Cao Hồng L: “Chết do shock mất máu trụy tim mạch suy hô hấp cấp tính trên tử thi đứt động mạch cảnh gốc, thần kinh trái, đa tổn thương nặng. Cơ chế hình thành vết thương: Tất cả các vết thương trên cơ thể tử thi Cao Hồng L là do vật sắc tác động tạo nên”.

Tại Bản kết luận giám định số: 3484/KL-KTHS ngày 29/6/2023, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh có kết luận:

Phân tích gen (ADN) từ tóc dính trên cây rựa gửi giám định được kiểu gen trùng với kiểu gen của Cao Hồng L.

- Chất màu đỏ dính trên cây rựa gửi giám định và các dấu vết màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường là máu người.

3

- Phân tích gen từ các dấu vết máu dính trên cây rựa được các kiểu gen như sau:

Kiểu gen nam giới trùng với kiểu gen của Cao Hồng L.

Kiểu gen nữ giới trùng với kiểu gen của Nguyễn Thị Mỹ L1.

ADN lẫn không xác định được kiểu gen cá thể.

- Phân tích gen từ các dấu vết máu ghi thu tại hiện trường được kết quả như sau:

Các dấu vết máu ghi thu tại vị trí số 1 và vị trí số 2 có kiểu gen trùng với kiểu gen của Cao Hồng L.

Dấu vết máu ghi thu tại vị trí số 4 có kiểu gen trùng với kiểu gen của Nguyễn Thị Mỹ L1.

Các dấu vết máu ghi thu tại vị trí số 5 và vị trí số 6 có kiểu gen trùng với kiểu gen của Cao Thái S.

Tại Bản kết luận giám định thương tích số: 141/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 17/7/2023 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận thương tích của Cao Thái S như sau:

  • · Sẹo bỏng 1/3 giữa mặt sau trong cẳng chân phải nền trắng, thâm diện tích 02%.
  • · Sẹo bỏng 1/3 giữa và dưới mặt trước trong đùi phải nền trắng, thâm phẳng diện tích 02%.
  • · Vết thương mỏm cùng vai trái hình chữ C kích thước (22,5x0,8)cm.
  • · Vai trái nhỏ hơn vai phải, teo cơ, hạn chế động tác vai nhiều.
  • · Vết thương chéo bả vai trái kích thước (12,5x0,6)cm.
  • · Vết thương chéo 1/3 dưới đùi trái gối trái kích thước (7,4x0,8)cm.
  • · Vết thương chéo hông trái từ cung bên xương sườn số X xuống hố chậu trái kích thước (16,5x0,5)cm.
  • · Vết thương gần nách trái song song với khoang liên sườn VII, VIII đường nách sau trái kích thước (7,5x0,4)cm.
  • · Vết thương 1/3 giữa và dưới mặt trước cánh tay phải hình chữ J kích thước (16x0,7)cm.
  • · Gãy xương đòn trái.
  • · Gãy mỏm cùng vai trái.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Cao Thái S tại thời điểm giám định là: 46% (Bốn mươi sáu phần trăm).

Cơ chế hình thành vết thương: Các tổn thương bỏng chân phải do nước

4

nóng tác động tạo nên. Các tổn thương còn lại do vật sắc tác động tạo nên. Các tổn thương trên cơ thể đều ảnh hưởng đến sức khỏe tính mạng con người.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 166/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 08/8/2023 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận thương tích của bà Nguyễn Thị Mỹ L1 như sau:

  • - Vết thương đỉnh phải sẹo liền lõm đóng vảy đen kích thước (21x8)cm. Lõm sọ đỉnh phải đáy mềm phập phồng.
  • - Vết dẫn lưu vùng đỉnh đầu kích thước (1x0,5)cm.
  • - Vết thương vùng trán phải sẹo liền tốt kích thước (2,2x0,2)cm.
  • - Vết thương ngang vùng mặt hàm trái sẹo liền lõm kích thước (9x0,6)cm.
  • - Vùng má phải có 04 vết thương sẹo liền tốt kích thước (3,5x0,6)cm; (3x0,7)cm; (2,5x0,6)cm; (1x0,5)cm.
  • - Vết thương ngang vùng môi trên bên phải kích thước (2x0,5)cm.
  • - Vết thương mặt trước vùng giữa cằm sẹo liền tốt kích thước (4,5x0,4)cm.
  • - Vùng vai phải bờ trên có 02 vết thương sẹo liền tốt kích thước (7x0,3)cm; (4,5x0,3)cm.
  • - Vết thương bờ trên vai trái sẹo liền tốt kích thước (7,2x0,4)cm.
  • - Vết thương 1/3 giữa mặt sau cẳng tay xuống mu bàn tay phải hình zíc zắc sẹo liền lồi lõm kích thước (30x0,7)cm.
  • - Mỏm cụt đứt mất đốt II, III ngón V bàn tay phải sẹo liền tốt.
  • - Yếu liệt 1/2 người bên trái.

Phúc trình giải phẫu:

  • - Tụ máu ngoài màng cứng, tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh phải. 01 ổ dập não đỉnh phải. Xuất huyết dưới nhện trán trái.
  • - Đứt gân gấp ngón II; đứt gân duỗi ngón II, III, IV tay phải; đứt cung động tĩnh mạch gan tay nông, gan tay sâu bàn tay phải.

Kết quả khám chuyên khoa:

  • + Răng – Hàm – Mặt: Gãy xương hàm dưới vùng góc hàm trái.

Kết quả cận lâm sàng:

  • + CT-Scanner: Tổn thương cũ thùy trán - đỉnh phải. Khuyết sọ thái dương - đỉnh phải kích thước (39x49)mm.
  • + Xquang: Gãy cũ di lệch đầu dưới xương quay phải chưa có can hoàn toàn. Gãy cũ các xương cổ tay phải (thuyền, nguyệt, thang) chưa có can hoàn toàn. Mất đốt II, III ngón V bàn tay phải.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Mỹ L1 tại thời điểm giảm

5

định là: 88% (Tám mươi tám phần trăm).

Cơ chế hình thành vết thương: Các vết thương đã qua quá trình điều trị nhận định do vật sắc gây nên. Các vết thương nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ 01 (một) cây rựa tự chế bằng kim loại, loại rựa dùng trong lao động, dài 128cm, cán dài 95cm, đường kính cán 2,3cm, lưỡi dài 33, bản rộng 04cm; 01 USB nén tập tin “Dữ liệu theo Kết luận giám định số 121.rar” có mã MD5: 3C2F32B5E1A35DA33B726BE1846C525A được niêm phong; 01 USB lưu trữ camera trích nhà hộ dân trước khu vực hiện trường được niêm phong.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn P bồi thường thiệt hại như sau:

Đối với ông Cao Hồng L đã chết: Tổng số tiền 360.750.000 đồng; bao gồm:

Chi phí mai táng 106.000.000đ, Tổn thất tinh thần: 180.000.000đ; Cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên (C) 3.250.000đ x 13 tháng = 42.250.000đ; Cấp dưỡng nuôi cha ruột (Cao Văn X) 3.250.000đ/tháng x 10 tháng = 32.500.000đ.

Đối với bà Nguyễn Thị Mỹ L1: số tiền 635.727.984đ và mất thu nhập đến khi qua đời 3.250.000đ/tháng, gồm: Tiền thuốc, điều trị và khám chữa bệnh: 63.537.984đ; Bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian điều trị: (3.250.000đ/tháng : 26 ngày) x 118 ngày = 14.750.000đ; Chi phí mua đồ dùng sinh hoạt trong thời gian điều trị 80.000đ/ngày x 118 ngày = 9.440.000đ; Thu nhập thực tế bị mất 300.000đ/ngày x 30 ngày x 10 tháng = 90.000.000đ; Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho bà L1 200.000đ/ngày x 30 ngày x 10 tháng = 60.000.000đ; Chi phí đi lại của người chăm sóc và tàu xe đi lại chuyển viện 8.000.000đ; Tổn thất tinh thần cho bị hại: 1.800.000đ/tháng x 50 tháng = 90.000.000đ; Chi phí cho người chăm sóc, nuôi dưỡng, bồi bổ và thuốc men điều trị suốt đời 300.000.000đ; Chi phí cho việc bà L1 mất khả năng lao động 3.250.000đ/tháng.

Đối với anh Cao Thái S: Số tiền 106.650.000 đồng, gồm: Tiền thuốc, điều trị và khám chữa bệnh: 1.500.000đ; Bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian điều trị và sau khi điều trị: (3.250.000đ/tháng: 26 ngày) x 90 ngày = 11.250.000đ; Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc (5.000.000đ/tháng 26 ngày) x 15 ngày = 2.900.000đ; Chi phí đi lại của người chăm sóc 1.000.000đ; Tổn thất tinh thần cho bị hại: 1.800.000đ/tháng x 50 tháng = 90.000.000đ;

Tổng cộng yêu cầu bị cáo bồi thường là 1.103.127.984đ.

Bị cáo Nguyễn Văn P tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại là 550.000.000đ. Số tiền còn lại, Bị cáo đồng ý bồi thường theo quy định của Pháp luật.

* Tại Cáo trạng số 29/CT-VKS-P2 ngày 20 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố Nguyễn Văn P về tội “Giết người” theo điểm a, i, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

6

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận quyết định:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giết người”.
  • - Áp dụng: điểm a, i, n khoản 1 Điều 123; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 57 Bộ luật Hình sự.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P tử hình.

Bị cáo bị bắt ngày 15/5/2023. Tiếp tục giam giữ bị cáo Nguyễn Văn P để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo, quyền làm đơn xin ân giảm án tử hình theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/4/2024, bị cáo Nguyễn Văn P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại; bản thân bị cáo đang bị bệnh ung thư giai đoạn IV.

Luật sư Hứa Thanh K bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P trình bày: Bị cáo P bị Tòa án cấp sơ thẩm bị xét xử về tội giết người là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, gia đình của bị cáo P đã khắc phục 550 triệu đồng cho gia đình bị hại, trong khi gia đình cáo không có điều kiện, kinh tế khó khăn. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tuy nhiên, bị cáo bị áp dụng mức hình phạt Tử hình cũng không thể khắc phục được thêm hậu quả cho gia đình bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được mức phạt tù chung thân để bị cáo sớm cải tạo tốt, phấn đấu khắc phục thêm cho gia đình của bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn P về tội Giết người theo quy định tại điểm a, i, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự với hình phạt tử hình. Bị cáo P chỉ vì mâu thuẫn nhỏ bị cáo đã dùng rựa chém nhiều nhát vào gia đình bị hại làm 1 người chết và 2 người bị thương. Khi các bị hại mất ý thức thì bị cáo mới dừng lại, bị cáo cố ý thực hiện tội phạm đến cùng, hai bị hại còn sống là do được cấp cứu kịp thời. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết định hình phạt Tử hình đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

7

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn P đã thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:

[2.1] Cho rằng ông Cao Hồng L đã bắt trộm gà và bắn bò của gia đình mình từ nhiều năm về trước nên Nguyễn Văn P đã nung nấu ý định trả thù và nhiều lần trao đổi với vợ là bà Thái Thị Hồng V1 về việc đánh ông L nhưng được can ngăn.

Vào rạng sáng ngày 15/5/2023, khi phát hiện ông Cao Hồng L đang đứng trước nhà của mình, Nguyễn Văn P đã vào nhà lấy một cây rựa bằng kim loại, dài 128cm, cán dài 95cm, đường kính cán 2,3cm, lưỡi dài 33cm, bản rộng 04cm đi tới chém 02 đợt với tổng cộng 14 nhát chém trên cơ thể của ông Cao Hồng L làm vỡ xương hộp sọ, dập não, tụ máu dưới màng cứng, tổn thương cổ đứt bó động tĩnh mạch cảnh gốc, thần kinh trái, đứt khí quản, xẹp phổi, rách phổi, vỡ xương cột sống cổ, xương ngực, gãy vỡ xương sườn, xương cánh cẳng tay trái, phải, đứt lìa bàn tay phải, trụy tim mạch, sốc mất máu dẫn đến chết tại chỗ.

Sau khi chém ông L chết, P tiếp tục cầm cây rựa đi vào nhà ông L, chém liên tiếp 06 nhát vào vùng hông, hõm nách, cánh tay, lưng và chân của anh Cao Thái S (con ông Cao Hồng L), với tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh S là 46%. Trong lúc đang chém anh S, thấy bà Nguyễn Thị Mỹ L1 (mẹ anh S, vợ ông L) từ bếp đi lên, P tiếp tục cầm cây rựa chém liên tiếp 14 nhát vào vùng đầu, mặt, vai và tay của bà L1, với tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà L1 là 88%.

[2.2] Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt đã xảy ra từ lâu trong cuộc sống, bị cáo Nguyễn Văn P đã vô cớ dùng cây rựa là hung khí nguy hiểm để tấn công với lực tác động rất mạnh và cường độ liên tục chém nhiều nhát vào vùng trọng yếu trên cơ thể của 03 người bị hại, làm ông L chết tại chổ, anh S, bà L1 bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tật lần lượt là 46% và 88% và bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, cho thấy thái độ hung hãn, côn đồ, coi thường pháp luật và thể hiện ý chí muốn tước đoạt trái phép tính mạng của các bị hại. Việc anh S, bà L1 không chết do được cứu chữa kịp thời, nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo.

[3] Với các hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giết người” theo quy định tại a, i, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây đau thương mất mát cho

8

gia đình bị hại, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú; tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại; bản thân bị cáo bị ung thư hốc mũi trái (giai đoạn IV), quy định tại các điểm b, r, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đồng thời xem xét tính chất hành vi của bị cáo là phạm tội chưa đạt đối với anh S, bà L1. Tuy nhiên, việc bị cáo dùng rựa chém liên tiếp nhiều nhát (34 nhát) vào nhiều người khác nhau, trong đó có anh S và bà L1 vốn không có mâu thuẫn gì với bị cáo và bị cáo chỉ dừng lại khi người bị hại không còn cử động, chứng tỏ bị cáo là người hung hãn, sẵn sàng giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, bất chấp pháp luật, xem thường mạng sống con người. Bị cáo thực hiện tội phạm giết người một cách man rợ, dùng thủ đoạn gây đau đớn cao độ, gây khiếp sợ đối với nạn nhân, gây hoang mang dư luận, cho thấy bị cáo không còn tình người, không còn khả năng cải tạo nên cần thiết phải loại bỏ vĩnh viễn bị cáo ra khỏi xã hội mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội, đặc biệt là trước tình hình các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe đang có chiều hướng gia tăng với tính chất, mức độ phạm tội ngày càng man rợ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo P tử hình là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cũng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của người bào chữa, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

9

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

Tuyên xử:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giết người”.

  • - Áp dụng: điểm a, i, n khoản 1 Điều 123; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 57, Điều 40 Bộ luật Hình sự.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P hình phạt Tử hình.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn P để đảm bảo thi hành án.

[2] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo Nguyễn Văn P có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước - N xin ân giảm án tử hình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận; (2)
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận; (1)
  • - Công an tỉnh Ninh Thuận; (1)
  • - Cục THA DS tỉnh Ninh Thuận; (1)
  • - TTG Công an tỉnh Ninh Thuận; (1)
  • - “Để tống đạt cho bị cáo”; (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1). VP 05, 15b. (TTPT).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 760/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 760/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giết người”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger