Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 760/2024/DS-PT

Ngày 13-9-2024.

V/v: “Tranh chấp chia thừa kế

quyền sử dụng đất và quyền sở hữu

nhà ở; hủy giấy quyền sử dụng đất;

vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền

sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Duyên.

Bà Lê Thị Tuyết Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hà - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 488/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; hủy giấy quyền sử dụng đất; vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2532/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  1. Ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1950 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Số B, Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

  2. Ông Đinh Văn H, sinh năm 1955 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Số D, Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền cho ông Đ và ông H:

Bà Bùi Thị Ngọc T, sinh năm 1960 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Ông Trần N, sinh năm 1950 (có mặt).

Địa chỉ: Số E Cao ốc B, N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Huỳnh Thị Bích P, sinh năm 1997 (có mặt).

Địa chỉ: Lô B, đường A, KCX T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Trung C, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Địa chỉ: Công ty L1, Phòng 301, tầng 3, số A, C, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

  1. Ông Đinh Văn P1, sinh năm 1942 (có mặt).

  2. Ông Đinh Văn Q, sinh năm 1980 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Số B, Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Long An;

Người đại diện theo ủy quyền cho ông P1: Bà Đinh Thị Thu T1, sinh năm 1980 (có mặt).

Địa chỉ: Số B, Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Hồng B-Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

Địa chỉ: A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đinh Thị Thu T1, sinh năm 1980 (vắng mặt).

  2. Ông Đinh Hữu B1, sinh năm 2006 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số B, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

  1. Bà Đinh Thị Xuân H1, sinh năm 1953 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Số A S, S, CA, 95131, Hoa Kỳ.

  2. Bà Đinh Thị T2, sinh năm 1947 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Số B G, P, Úc.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H1, bà T2 là: Bà Bùi Thị Ngọc T, sinh năm 1960 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

  1. Văn phòng C1.

    Địa chỉ: Số I, khu dân cư N, Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Dương Thùy L; chức vụ: Trưởng văn phòng (vắng mặt).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T3; chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Đặng Phương N1; chức vụ: Phó giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ1 tại huyện C (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, phường D, thành phố T, tỉnh Long An.

  1. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L

  1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

    Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh V; chức vụ: Phó Chủ tịch (vắng mặt).

Người kháng cáo:

Bị đơn, ông Đinh Văn P1 và ông Đinh Văn Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn, ông Đinh Văn Đ, Đinh Văn H và người đại diện hợp pháp trình bày:

Cha mẹ của ông H và ông Đ là cụ Đinh Văn S, sinh năm 1922, (chết năm 1962) và cụ Lê Thị B2, sinh năm 1922 (chết năm 1992). Cụ S và cụ B2 chung sống với nhau và có 5 người con gồm các ông (bà) Đinh Văn H, Đinh Văn Đ, Đinh Văn P1, Đinh Thị T2, bà Đinh Thị Xuân H1. Cha mẹ của cụ S và cụ B2 đã chết, hai cụ không có cha mẹ nuôi, con nuôi, con riêng nào khác, trước khi chết không để lại di chúc.

Di sản của cụ S và cụ B2 để lại là thửa đất số 13 diện tích 138m², loại đất ONT, thuộc tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An, trên đất có 01 căn nhà cấp 4 hiện tại ông Đinh Văn P1 quản lý, sử dụng. Phần đất này, hai cụ trước khi chết chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ), sau khi hai cụ chết thì năm 2003, ông P1 làm thủ tục kê khai đăng ký và được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ ngày 27/10/2003. Nguồn gốc nhà đất này là của ông bà nội chết để lại cho cụ S, cụ B2 làm nhà thờ và ông Đ, ông H cùng sống chung tại căn nhà này đến khi cụ B2 chết thì ông P1 về ở tại nhà này, vì các anh em nghĩ ông P1 sống để thờ cúng ông bà nên không ai phản đối việc này, hiện tại căn nhà từ trước đến nay không thay đổi, ngoài tài sản này ra cha mẹ không còn tài sản nào khác.

Ngày 22/01/2009, anh em trong nhà có họp gia đình và thỏa thuận giao cho ông P1 quản lý nhà và đất này với điều kiện chỉ được quyền ở không được quyền bán, sang nhượng, ủy quyền hoặc thừa kế cho người khác (theo nội dung trong Biên Bản họp gia đình ngày 22/01/2009). Khoảng 02/2021, ông Đ và ông H phát hiện ông P1 đã tặng cho thửa đất số 13 cho con trai là ông Đinh Văn Q và ông Q đã được cấp giấy CNQSDĐ, khi đó, anh em trong gia đình có họp bàn lại lần nữa và thỏa thuận nhà đất này chia đôi cho ông P1 và ông H mỗi người một nữa, nhưng sau đó cũng không thực hiện được.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 25/5/2019 tại Văn phòng C1, giữa ông Đinh Văn P1 và ông Đinh Văn Q tại thửa đất số 13, diện tích 138m², thuộc tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An; Hủy giấy CNQSDĐ số CS 255259 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/06/2019 cho ông Đinh Văn Q tại thửa đất số 13, diện tích 138m², thuộc tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An; Chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số 13, diện tích đo thực tế 138m², thuộc tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Ông Đ và ông H yêu cầu được nhận nhà và đất, đồng ý hoàn lại giá trị quyền sử dụng đất theo kỷ phần thừa kế cho ông P1. Ông Đ xác định kỷ phần thừa kế ông được chia thì nhường lại cho ông H được hưởng.

Bị đơn ông Đinh Văn P1 trình bày:

Về nguồn gốc đất và quan hệ hôn nhân giữa cụ Đinh Văn S và cụ Lê Thị B2 thì ông P1 thống nhất như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, ông P1 xác định năm 1990, khi cụ B2 già yếu đã kêu Ông về để chăm sóc và sau này trông coi thờ cúng ông bà vì ông P1 là con trai lớn. Đối với Biên bản họp gia đình ngày 22/01/2009, ông P1 xác nhận chữ ký trong Biên bản là của ông P1. Tuy nhiên, Biên bản này đã viết sẵn từ trước, khi ký thì ông P1 đang say rượu nên không biết nội dung ghi gì, Biên bản này ký lúc nào và ký tại đâu thì không biết.

Sau khi cụ B2 chết thì ông P1, ông Q vẫn là người trực tiếp quản lý sử dụng nhà này để cúng giỗ ông bà, cha mẹ. Năm 2003, ông P1 làm thủ tục đăng ký kê khai và được cấp giấy CNQSDĐ. Do trên đất có nhà thờ mà ông P1 đã lớn tuổi nên năm 2019 ông P1 mới làm thủ tục tặng cho con trai là ông Đinh Văn Q để tiếp tục gìn giữ nhà đất thờ cúng ông bà. Ông P1 xác định hoàn toàn không có việc tự nguyện đồng ý chia lại đất cho ông H như nguyên đơn trình bày.

Vì vậy, ông P1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp, Tòa án chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất thửa số 13 và căn nhà trên đất thì ông P1 yêu cầu được chia thêm 1 kỷ phần xem như là công sức đóng góp, gìn giữ nhà đất trong suốt thời gian sinh sống tại đây.

Bị đơn ông Đinh Văn Q trình bày: Ông là con ruột của ông P1. Hiện nay ông đang sinh sống trên thửa đất số 13 cùng với ông P1, vợ là bà Đinh Thị Thu T1, con trai là Đinh Hữu B1 (sinh năm 2006). Ngoài căn nhà trên thửa đất này, thì gia đình ông không còn nơi ở nào khác. Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Đối với các yêu cầu khác ông thống nhất với lời trình bày của ông P1, không bổ sung gì thêm.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Đinh Thị Thu T1 trình bày: Bà và ông Q kết hôn vào năm 2004, vợ chồng sống tại căn nhà này và chịu trách nhiệm thờ cúng, làm giỗ cho ông bà. Khoảng một hai năm đầu sau khi bà về thì hàng năm ông H có đưa tiền nói của hai cô gửi về làm giỗ ông bà, nhưng sau đó thì vợ chồng bà không có nhận bất cứ khoản tiền nào nữa nhưng vợ chồng bà vẫn lo chu toàn việc thờ cúng, làm giỗ cho đến nay. Vợ chồng bà và ông P1 không còn nơi ở nào khác ngoài căn nhà này. Nay theo yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, bà không đồng ý.

Bà Đinh Thị Xuân H1 và bà Đinh Thị T2 trình bày: Bà H1, bà T2 thống nhất nội dung trình bày của các nguyên đơn, không có ý kiến khác; đồng thời thống nhất yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn, nếu yêu cầu của các nguyên đơn được chấp nhận thì các bà đồng ý nhường kỷ phần thừa kế được hưởng cho ông Đinh Văn H và cam kết không khiếu nại gì về sau.

Văn phòng C1 trình bày: Văn phòng C1 đã thực hiện thủ tục chứng thực Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đinh Văn P1 với ông Đinh Văn Q theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đối với yêu cầu khởi kiện của các đương sự, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Ủy ban nhân dân huyện C trình bày: Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L trình bà: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L đã thực hiện thủ tục cấp giấy CNQSDĐ cho ông Đinh Văn Q tại thửa đất số 13 theo đúng trình tự thủ tục quy định. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An,

Căn cứ các điều 26, 34, 37, 39, 147, 157, 158, 165, 227, 228, 464, 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 122, 157, 609, 612, 613, 623, 649 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các điều 100, Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Các điều 12, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn Đ và ông Đinh Văn H về việc “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” với ông Đinh Văn P1 và ông Đinh Văn Q.

    1. Vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 25/5/2019 tại Văn phòng C1 được ký kết giữa ông Đinh Văn P1 và ông Đinh Văn Q tại thửa đất số 13, diện tích 138m², tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 255259 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/06/2019 cho ông Đinh Văn Q tại thửa đất số số 13, diện tích 138m², tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

  2. Chia thừa kế di sản của cụ Đinh Văn S và cụ Lê Thị B2 như sau:

    1. Chia cho ông Đinh Văn H quyền sử dụng đất tại thửa đất số 13, diện tích giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 138m2, diện tích đo thực tế 139,9m² và toàn bộ tài sản trên đất, căn nhà trên đất, thuộc tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    2. Buộc ông Đinh Văn P1, ông Đinh Văn Q, bà Đinh Thị Thu T1 và ông Đinh Hữu B1 giao cho ông Đinh Văn H thửa đất số 13, diện tích giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 138m², diện tích đo thực tế là 139,9m² và toàn bộ tài sản trên đất, căn nhà trên đất, thuộc tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    3. Ông Đinh Văn H có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp) tại thửa đất số 13, diện tích giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 138m², diện tích đo thực tế 139,9m² và toàn bộ tài sản trên đất, căn nhà trên đất, thuộc tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An .

Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

    1. Vị trí, tứ cận thửa đất theo Mảnh trích đo địa chính số 17/TT - 2023 do Công ty TNHH Đ2 và được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C phê duyệt ngày 12/6/2023.

    2. Buộc ông Đinh Văn H hoàn lại cho ông Đinh Văn P1 giá trị 02 kỷ phần thừa kế là 355.626.000 đồng, giá trị căn nhà trên đất là 103.839.000 đồng, chi phí san lấp cát là 1.026.000 đồng, 200.000.000 đồng hỗ trợ chi phí di dời. Tổng cộng là 660.491.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm thi hành án, thời hạn lưu cư, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 08/4/2024, bị đơn, ông Đinh Văn P1, Đinh Văn Q kháng cáo đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đình chỉ giải quyết vụ án vì thời hiệu khởi kiện đã hết.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:

Toà xác định còn thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là không đúng. Thời điểm này, phần đất trên đã thuộc quyền sử dụng của ông P1, không còn là di sản. Do thời hiệu khởi kiện đã hết nên trường hợp các đương sự thống nhất thì có thể xác định là tài sản chung, không thể căn cứ vào Biên bản họp gia đình để chia thừa kế. Về thời gian ghi trong Biên bản họp gia đình ngày 22/01/2009, nhưng phần ghi xã xác nhận ngày 21/01/2009 là văn bản soạn sẵn, yêu cầu ông P1 ký.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm. Trong trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu hủy bản án thì ông P1 và ông Q yêu cầu được nhận hiện vật là căn nhà để có nơi sinh sống đến cuối đời và có nghĩa vụ hoàn trả lại giá trị đất cho các thừa kế khác, vì hiện tại ông P1 là người cao tuổi, không còn nơi sinh sống khác.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguồn gốc nhà đất là của cụ S và cụ B2, hai cụ không để lại di chúc nên tài sản trên là di sản thừa kế và được chia theo pháp luật cho 05 người con. Căn cứ vào Biên bản họp gia đình năm 2009 thì anh em trong gia đình đã thống nhất giao cho ông P1 quản lý thửa đất số 13 và nhà để ở và nhang khói cho ông bà đến hết đời, không được quyền bán, sang nhượng..., được U xác nhận. Tuy nhiên, năm 2009, ông P1 đã tự ý lập Hợp đồng tặng cho ông Q là vi phạm thỏa thuận.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn không đồng ý chia hiện vật theo yêu cầu của bị đơn. Đến thời điểm hiện tại, các bên không thể hòa giải được nữa, nguồn gốc nhà, đất dùng để thờ tổ tiên nếu giao nhà cho ông P1, ông Q thì gia đình không thể thực hiện việc thờ cúng. Việc cấp giấy CNQSDĐ cho bị đơn vì bị đơn đang sống trên đất là không có căn cứ pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Về hình thức: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đơn kháng cáo của ông Đinh Văn P1 và ông Đinh Văn Q làm trong hạn luật định, đúng hình thức.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông Đinh Văn P1, Đinh Văn Q kháng cáo nhưng không có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông P1, ông Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án và giải quyết là đúng quy định pháp luật. Ông Đinh Văn P1, Đinh Văn Q kháng cáo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về thời hiệu chia thừa kế: Cụ Đinh Văn S (chết năm 1962) và cụ Lê Thị B2 (chết năm 1992) là vợ chồng, trước khi chết hai cụ không để lại di chúc. Ngày 21/01/2009, các thừa kế của cụ S và cụ B2, gồm các ông (bà): Đinh Văn P1, Đinh Văn Đ, Đinh Văn H, Đinh Thị Xuân H1 thống nhất lập Biên bản họp gia đình thỏa thuận giao cho ông P1 quản lý sử dụng thửa số 13 và căn nhà trên đất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 623 của Bộ luật Dân sự 2015 xác định thời hiệu chia thừa kế vẫn còn là có căn cứ.

Về nội dung:

[3] Các đương sự thống nhất xác định cụ S (chết năm 1962) và cụ B2 (chết năm 1992) không để lại di chúc. Cụ S và cụ B2 có 05 người con, gồm các ông (bà) Đinh Văn P1, Đinh Văn Đ, Đinh Văn H, Đinh Thị T2, Đinh Thị Xuân H1; ngoài ra, không còn cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi, con riêng nào khác, cha mẹ ruột của cụ S và cụ B2 cũng đã chết. Thửa đất số 13, tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, diện tích 138m² (đo thực tế là 139,9m²), tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An là tài sản do cụ S và cụ B2.

[4] Trong khi các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ S, cụ B2 để lại thì bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Riêng ông P1 cho rằng trường hợp Tòa án xác định là di sản thừa kế thì ông yêu cầu được hưởng thêm một kỷ phần do có công sức đóng góp, giữ gìn di sản.

[5] Xét yêu cầu của các đương sự, thấy rằng:

[5.1] Tại biên bản họp gia đình đề ngày 22/01/2009 có xác nhận của UBND xã U (bút lục 47), thể hiện: Ông P1 cùng với anh em trong gia đình đã thỏa thuận thống nhất giao cho ông P1 quản lý thửa đất số 13 và nhà để ở và nhang khói ông bà đến hết đời, nếu có đền bù giải tỏa hoặc mở rộng lộ giới thì tiền đền bù phải công khai và dùng vào việc tu bổ, không được quyền bán, sang nhượng, ủy quyền hoặc thừa kế cho người khác. Ông P1 đồng ý nội dung trên. Quá trình tố tụng, ông P1 thừa nhận có ký trong biên bản họp gia đình ngày 22/01/2009. Như vậy, có căn cứ xác định nhà và đất trên là di sản chưa chia của cụ S, cụ B2.

[5.2] Hồ sơ vụ án thể hiện: Sau khi cụ S, cụ B2 chết thì ông P1 làm thủ tục kê khai đăng ký và ngày 27/10/2003, được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 138m², thửa đất số 13. Ngày 25/5/20219, ông P1 tặng cho ông Q thửa đất số 13, theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, được Văn phòng C1 công chứng 25/5/20219 và ngày 17/06/2019, ông Q được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy CNQSDĐ thửa đất số 13, diện tích 138m² nêu trên.

[5.3] Như vậy, việc ông P1 làm thủ tục kê khai đăng ký và được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ thửa đất số 13, sau đó tặng cho ông Q thửa đất và tài sản này mà không được sự đồng ý của các thừa kế của cụ S, cụ B2 là không đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà và đất trên là di sản chưa chia của cụ S, cụ B2 là có căn cứ.

[5.4] Theo Chứng thư thẩm định giá số 295 ngày 24/7/2023 của Công ty Cổ phần T4 thì tổng giá trị tài sản nhà và đất tại thửa đất số 13 là 1.171.742.000 đồng. Như vậy, di sản thừa kế được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, gồm các ông (bà): Đinh Văn P1, Đinh Văn Đ, Đinh Văn H, Đinh Thị T2 và Đinh Thị Xuân H1. Do ông P1 có công sức gìn giữ, quản lý phần di sản, được nguyên đơn đồng ý chia cho ông P1 được hưởng 2 kỷ phần nên Tòa án cấp sơ thẩm chia thành 6 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 177.812.833 đồng (=1.066.877.000 đồng/6). Trong đó, ông P1 hưởng 2 kỷ phần trị giá 355.625.666 đồng; các thừa kế còn lại gồm: Ông Đ, bà T2, bà H1, mỗi người hưởng 1 kỷ phần nhưng đã tự nguyện giao kỷ phần thừa kế của mình được hưởng cho ông H nên ông H được hưởng di sản trị giá 711.251.333 đồng là có căn cứ.

[6] Về chia bằng hiện vật: Ông P1 và ông H đều có yêu cầu nhận hiện vật. Tuy nhiên, ông P1 đã ở căn nhà này cho đến nay, tại thời điểm xét xử phúc thẩm, ông P1 đã 88 tuổi, sức khỏe yếu nên để ổn định chỗ ở, tránh gây xáo trộn cuộc sống và sinh hoạt nên cần chia cho ông P1 được hưởng bằng hiện vật là phù hợp với thỏa thuận của các đương sự tại biên bản họp gia đình ngày 22/01/2009 là giao cho ông P1 quản lý và được ở căn nhà cho đến khi chết.

[7] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ S, cụ B2 để lại là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông P1 đã vi phạm thỏa thuận tại biên bản họp gia đình ngày 22/01/2009, hiện tại ông P1 đã lớn tuổi, phải sống nhờ vào thu nhập của các con, không có điều kiện hoàn lại giá trị 4 kỷ phần thừa kế khác để chia cho ông H bằng hiện vật là không phù hợp.

[8] Kháng cáo của ông P1 đề nghị được nhận hiện vật để ổn định cuộc sống là có căn cứ nên được chấp nhận. Ông Q kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần ý kiến của Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo của ông P1, không chấp nhận kháng cáo của ông Q, sửa một phần bản án sơ thẩm về chia di sản thừa kế. Ông P1 không phải chịu án phí phúc thẩm, ông Q phải chịu án phí phúc thẩm.

[9] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 122, 157, 609, 612, 613, 623, 649 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các điều 100, Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đinh Văn P1.

  2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn Q.

  3. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

  4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn Đ và ông Đinh Văn H về việc “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” với ông Đinh Văn P1 và ông Đinh Văn Q.

  5. Vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 25/5/2019 tại Văn phòng C1 được ký kết giữa ông Đinh Văn P1 và ông Đinh Văn Q tại thửa đất số 13, diện tích 138m², tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

  6. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 255259 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/06/2019 cho ông Đinh Văn Q tại thửa đất số số 13, diện tích 138m², tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

  7. Chia thừa kế di sản của cụ Đinh Văn S và cụ Lê Thị B2 như sau:

    1. Chia cho ông Đinh Văn P1 quyền sử dụng đất tại thửa đất số 13, diện tích giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 138m², diện tích đo thực tế 139,9m² và toàn bộ tài sản trên đất, căn nhà trên đất, thuộc tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    2. Buộc ông Đinh Văn P1 hoàn lại giá trị phần thừa kế cho ông Đinh Văn H số tiền 711.251.333 (bảy trăm mười một triệu, hai trăm năm mươi mốt nghìn, ba trăm ba mươi ba) đồng.

    3. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho ông Đinh Văn H số tiền trên, ông Đinh Văn P1 được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đo thực tế 139,9m² và toàn bộ tài sản trên thửa đất số 13, thuộc tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    4. Vị trí, tứ cận thửa đất theo Mảnh trích đo địa chính số 17/TT - 2023 do Công ty TNHH Đ2 và được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C phê duyệt ngày 12/6/2023.

  8. Về chi phí tố tụng: Tổng cộng là 17.200.000 đồng, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ và đã nộp xong.

  9. Về án phí:

    1. Án phí sơ thẩm:

      Ông Đinh Văn P1, ông Đinh Văn Đ, ông Đinh Văn H, bà Đinh Thị T2, bà Đinh Thị Xuân H1 được miễn án phí.

      Ông Đinh Văn Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

    2. Án phí phúc thẩm:

      Ông Đinh Văn P1 không phải chịu.

      Ông Đinh Văn Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000310 ngày 08/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An, ông Q đã nộp đủ.

  10. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  11. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  12. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  13. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Cục THADS tỉnh Long An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (5), (án LTTH).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 760/2024/DS-PT ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; hủy giấy quyền sử dụng đất; vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 760/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; hủy giấy quyền sử dụng đất; vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger