|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 760/2023/DS-PT Ngày 02 - 11 - 2023 V/v “Tranh chấp đòi lại QSDĐ cho ở nhờ; Hủy giấy chứng nhận QSDĐ; Yêu cầu công nhận QSDĐ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Văn Tửu |
Các Thẩm phán: |
Ông Hà Huy Cầu |
Ông Lê Thành Long |
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 10 và 02 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 457/2023/TLPT-DS, ngày 5 tháng 7 năm 2023, về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho ở nhờ; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2023/DS-ST, ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2065/2023/QĐ-PT, ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Văn L, sinh năm 1937; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lâm Ngọc T, sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 10/10/2019 và ngày 11/12/2020 – có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trần Thanh P, là luật sư của Văn phòng Luật sư Trần Thanh P thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. Địa chỉ: số A đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ ( có mặt).
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Bé M, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1940; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị Đ: Ông Võ Vũ T1; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 01/11/2022 -có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn: Bà Sơn Thị P1, là luật sư của Văn phòng luật sư Huỳnh Ánh T2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S; Địa chỉ: số G đường N, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân (UBND) huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ: số C, đường N, ấp V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện M: Ông Ngô Minh L1 - Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M (theo văn bản ủy quyền ngày 11/01/2021 – vắng mặt).
- Bà Nguyễn Tuyết H; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bà Lâm Ngọc T; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Ông Lâm Tấn P2; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bà Lâm Hồng Y; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bà Lâm Hồng L2 Chị; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bà Lâm Hồng Loan E; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Tuyết H, ông Lâm Tấn P2, bà Lâm Hồng Y, bà Lâm Hồng Loan C, bà Lâm Hồng L2 Em: ông Lâm Văn L, sinh năm 1937; địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 11/5/2022 – vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc N; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc N1; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc N2; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Ông Võ Vũ T1; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bà Bùi Thanh Q; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Ngân hàng N5; Địa chỉ: số B, L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N5: Ông Ngô Thanh B, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N5 chi nhánh T6; Địa chỉ: ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 27/12/2019 – vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn B1; Địa chỉ: ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người kháng nghị:
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Người kháng cáo:
Ông Lâm Văn L là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2019 của ông Lâm Văn L và quá trình giải quyết vụ án đại diện của nguyên đơn là bà Lâm Ngọc T trình bày:
Năm 1994, UBND huyện M cấp cho ông Lâm Văn L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN.QSDĐ) số 54/C.896753 ngày 05/5/1994 gồm 07 thửa, trong đó có thửa số 87 với diện tích 2.672m², tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Phần đất này có nguồn gốc là của ông Lâm Văn S (cha của ông Lâm Văn L). Năm 1947, ông Sáu D (cha của bà Đ) chạy giặc vào cư ngụ ở ấp L, xã G 1 làm công cho ông S, được ông S cho ở nhờ một nền thổ cư để cất nhà ở. Bà Đ ở chung với cha, mẹ cho đến khi có chồng về T, huyện V. Năm 1968 chồng bà Đ hy sinh, bà mới trở về ở với cha, mẹ. Đến năm 1970 gia đình bà Đ về Thạnh Thới A ở. Đến năm 1978, bà Đ cùng mẹ là bà L3 trở lại xin được tiếp tục ở nhờ trên đất này.
Năm 1996, Nhà nước đào kênh làm lộ thì bà Đ nhận toàn bộ tiền bồi thường đối với diện tích đất 448m², trong khi đó ông L là người được cấp GCN.QSDĐ nhưng không được nhận bồi thường. Sau đó, bà Đ sang nhượng lại phần đất cho bà Nguyễn Thị Bé M và hiện nay bà M đang sử dụng đất.
Ông Lâm Văn L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Bé M tháo dỡ toàn bộ nhà xây dựng trên đất để trả lại cho ông L phần đất có diện tích 464m² (theo đo đạc thực tế là 458,7m²) nằm trong thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Riêng yêu cầu buộc bà Đ trả cho ông L số tiền 60.000.000 đồng mà bà Đ đã nhận do nhà nước bồi thường khi thu hồi 448m² đất thuộc thửa đất này thì ông L rút lại phần yêu cầu khởi kiện này.
* Theo đơn phản tố ngày 18/3/2020 và quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thị Đ tại trình bày:
Phần đất diện tích 912m², tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng mà ông Lâm Văn L đang tranh chấp có nguồn gốc là của địa chủ Lâm Văn S (cha của ông L). Năm 1945, cha, mẹ của bà Đ là cụ Huỳnh Văn D1 và cụ Nguyễn Thị L4 là người làm công cho ông S. Lúc đó, ông S có cho cha, mẹ bà một phần đất để cất nhà ở và có trồng dừa, trâm bầu... Lúc cho không có đo đạc, nhưng khi cha, mẹ bà ở thì có đào mương lấy đất cất nhà, xung quanh trồng cây trái và có ranh đất rõ ràng. Đất có hướng Đông giáp đường tỉnh lộ 4, hướng Tây giáp đất ông Lương Bạch N3 (B), hướng Bắc giáp lộ đal, hướng Nam giáp đất ông L.
Bà Đ ở chung với cha, mẹ cho đến khi lập gia đình thì về T, Vĩnh C1 ở. Năm 1968, cha bà Đ hy sinh nên Bà trở về sống cùng mẹ trên phần đất này. Năm 1969 do chiến tranh nên mọi người tản cư đi nơi khác sinh sống. Sau năm 1975 thì bà Đ và mẹ cũng trở về sống ổn định trên phần đất cũ. Năm 1993, mẹ của bà Đ qua đời, bà Đ tiếp tục quản lý phần đất này.
Năm 1994, ông Lâm Văn L đăng ký QSDĐ cả phần đất của gia đình bà Đ đang sử dụng. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận thì ông L tranh chấp với bà Đ. Từ 2002 đến năm 2009, các cơ quan có thẩm quyền đã nhiều lần mời các bên giải quyết tranh chấp, kết quả công nhận phần đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đ. Nhưng do cấp nhầm phần đất của bà Đ trong GCN.QSDĐ cho ông L, đất của con rể ông L nằm trong GCN.QSDĐ của bà Đ nên UBND huyện M đã ra quyết định thu hồi các quyết định cấp đất cho hai bên để điều chỉnh lại cho phù hợp với thực tế sử dụng. Sau khi nhận được quyết định, bà Đ đã nhiều lần đề nghị chính quyền yêu cầu ông L nộp GCN.QSDĐ để điều chỉnh lại nhưng ông L không chấp hành. Năm 2013, Nhà nước thu hồi 323,2m² để xây dựng đường tỉnh lộ 4, bà Đ nhận tiền bồi thường nhưng ông L không tranh chấp.
Bà Huỳnh Thị Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn L. Đồng thời phản tố yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 912m² thuộc thửa số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đ và hủy một phần GCN.QSDĐ số C 896753, số vào sổ 00054 do UBND huyện M cấp cho hộ ông Lâm Văn L ngày 05/5/1994 đối với thửa số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Huỳnh Thị Đ thay đổi yêu cầu phản tố thành yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 458,7m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đ và hủy một phần GCN.QSDĐ số C 896753, số vào số 00054 ngày 05/5/1994 đối với phần diện tích đất tranh chấp này.
* Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Bé M trình bày: Bà Nguyễn Thị Bé M thống nhất với yêu cầu phản tố của bà Huỳnh Thị Đắc . Trường hợp Tòa án quyết định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Lâm Văn L thì bà M đồng ý tháo dỡ tài sản để trả lại đất cho ông L.
* Tại các văn bản số 512/UBND-VP ngày 07/7/2020 và số 293//UBND-CP ngày 10/5/2022 của UBND huyện M trình bày:
Việc UBND huyện M cấp GCN.QSDĐ số C896753 (số vào số 00054) ngày 05/5/1994 cho hộ ông Lâm Văn L đối với diện tích đất 2.672m², thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6 là đúng trình tự, thủ tục và đúng đối tượng sử dụng đất.
Đến ngày 07/4/2023, UBND huyện M có văn bản số 328/UBND-VP (thay thế hai văn bản số 512/UBND-VP ngày 07/7/2020 và số 293//UBND-CP ngày 10/5/2022) với nội dung phần đất tranh chấp giữa ông Lâm Văn L và bà Huỳnh Thị Đ có diện tích 912m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6 tại ấp L, xã G, huyện M nằm trong GCN.QSDĐ của hộ ông Lâm Văn L có nguồn gốc đất là của địa chủ S (cha ruột ông L). Vào khoảng năm 1947, ông Sáu D (cha ruột bà Đ) chạy giặc vào ấp L, xã G 1 định cư, làm công cho ông S và được ông S cho đất cất nhà ở và bà Đ ở chung với cha mẹ. Đến khi có chồng bà Đ theo chồng về quê xã T, huyện V sinh sống. Năm 1968 chồng bà Đ hy sinh, năm 1969 ông D chết, bà Đ quay về sống cùng gia đình và đến năm 1970 chiến tranh nổ ra ác liệt nên gia đình bà Đ chuyển về sống tại xã T, huyện M (nay là huyện T), tỉnh Sóc Trăng. Năm 1975, bà Đ cùng mẹ là bà Nguyễn Thị L4 trở về ấp L, xã G 1 cất nhà ở trên phần đất nhà cũ. Đến năm 1993 bà L4 chết, bà Đ tiếp tục ở và quản lý phần đất này. Năm 1996, kênh xáng múc làm lộ từ Nhu G đi H, bà Đ mới dỡ nhà lên ruộng cất nhà lại để ở, bỏ lại nền đất trống.
Việc UBND huyện M cấp GCN.QSDĐ số 00054/C 896753 ngày 05/5/1994 cho hộ ông Lâm Văn L đối với thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, diện tích 2.672m², tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng gồm phần diện tích đất 464m² của bà Huỳnh Thị Đ đang sử dụng là do nhầm vị trí đất.
Ngày 17/01/1996, bà Huỳnh Thị Đ được UBND huyện M cấp GCN.QSDĐ số 149/H 246802 với tổng diện tích 10.839m², tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc ấp L, xã G, huyện M (gồm các thửa đất số 18, diện tích 1.600m², loại đất lúa; thửa đất số 19, diện tích 8.528m², loại đất lúa; thửa đất số 95, diện tích 771m², loại đất T+LN). Nhưng thực tế thửa đất số 95, diện tích 771m², loại đất T+LN thì ông Lâm Văn L cho người con rể là ông Nguyễn Thanh D2 sử dụng.
* Tại văn bản ngày 29/11/2021 Ngân hàng N5 trình bày:
Ông Lâm Văn L không có nợ vay và thế chấp thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, diện tích 2.672m², tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng theo GCN.QSDĐ số C 896753 (số vào sổ 00054) ngày 05/5/1994 do UBND huyện M cấp cho hộ ông Lâm Văn L tại Ngân hàng N5 - Chi nhánh T7.
* Bà Nguyễn Tuyết H, ông Lâm Tấn P2, bà Lâm Hồng Y, bà Lâm Hồng Loan C, bà Lâm Hồng Loan E, bà Nguyễn Thị Ngọc N, bà Nguyễn Thị Ngọc N1, bà Nguyễn Thị Ngọc N2, bà Bùi Thanh Q: Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng các đương sự này không có ý kiến gì trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2023/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; Điều 167, Điều 255 của Bộ luật dân sự năm 1995 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 3, 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn L về việc yêu cầu Tòa án buộc bà Huỳnh Thị Đ trả số tiền 60.000.000 đồng đã nhận do Nhà nước bồi thường khi thu hồi 448m² đất thuộc thửa số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn L về việc yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Bé M tháo dỡ toàn bộ nhà xây dựng trên đất để trả lại cho ông Lâm Văn L phần đất có diện tích 464m² (theo đo đạc thực tế là 458,7m²) nằm trong thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Huỳnh Thị Đ:
- Công nhận phần đất có diện tích 458,7m², loại đất LNK, thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Huỳnh Thị Đắc . Đất có vị trí theo Sơ đồ đo đạc ngày 15-7-2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Sóc Trăng như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa đất số 87, có số đo 34,39m;
- Hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa đất số 87, có số đo: 29,80m;
- Hướng Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 87, có số đo: 14,93m;
- Hướng Bắc giáp đường đá có số đo: 14,47m;
(Kèm theo Sơ đồ đo đạc)
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 896753 (số vào sổ 00054) do UBND huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Lâm Văn L ngày 05/5/1994 đối với diện tích đất 458,7m², loại đất LNK, thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Công nhận phần đất có diện tích 458,7m², loại đất LNK, thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Huỳnh Thị Đắc . Đất có vị trí theo Sơ đồ đo đạc ngày 15-7-2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Sóc Trăng như sau:
3.3. Bà Huỳnh Thị Đ có quyền thực hiện các thủ tục đăng ký để được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất nêu trên.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 22 tháng 6 năm 2023, nguyên đơn ông Lâm Văn L có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Lý do kháng cáo:
Thứ nhất theo Biên bản hòa giải ngày 05/01/1995 có đủ các thành phần như Bí thư chi bộ ấp, B2 tự quản ấp, Trưởng Công an ấp và các cán bộ cao tuổi sống lâu đời tại đây đều xác nhận nguồn gốc đất tranh chấp là đất của ông S; ông Sáu D là người làm công cho ông S và ông S đã cho ông D ở nhờ; khi ông L đòi lại đất thì ông K con của bà Đ đã đề nghị cho chỗ ở, phân ranh rõ ràng và cho vĩnh viễn nhưng ông L không đồng ý.
Thứ hai, không có căn cứ nào để xác định phần đất bà Đ sử dụng có diện tích là 912 m², vì tất cả các văn bản của UBND tỉnh S và UBND huyện M đều xác nhận ông S đã cho ông Huỳnh Văn D1 (là cha của bà Đ) cất nhà để ở, không thể hiện việc cho đất để trồng trọt; trên thực tế phần diện tích đất tranh chấp 458,7 m² là đất vườn tạp, còn phần đất có nhà của bà Đ có diện tích 323,3 m² đã được giải tỏa trắng và bà Đ đã được ưu ái nhận tiền bồi thường trong khi ông L mới là chủ sử dụng đất này. Những người làm chứng trong vụ án đều là bà con của bị đơn, không biết về nguồn gốc đất tranh chấp nên lời khai của những người làm chứng này là không khách quan, làm sao biết được cội nguồn đất đai này. Phía bà Đ cho rằng có trồng 01 cây dừa trên phần đất 458,7m² nên phần đất này thuộc quyền sử dụng của bà Đ là không khách quan vì bà Đ không chứng minh được cây dừa này là do bà trồng; gia đình ông L là người sử dụng toàn bộ diện tích đất thuộc thửa số 87 bao gồm căn nhà bà Đ ở nhờ lúc bấy giờ, ngoài ra tại Biên bản hòa giải ngày 05/01/1995 phía ông L đã không đồng ý cho bà Đ trồng trọt trên đất và cũng chưa bao giờ phân định ranh giới cho bà Đ. Do đó, không có căn cứ nào để xác định bà Đ sử dụng 912m². Ngay cả diện tích 323,3m² có nhà của bà Đ cũng không có sự phân định ranh giới mà diện tích 323,3m² này được xác định do Nhà nước đo đạc, giải tỏa trắng nhà của bà Đ để làm kênh xáng. Theo đó, để giải quyết vụ án, cần phải tách rời 02 diện tích 458,7m² và 323,3m² mới làm rõ được diện tích bà Đ sử dụng là phần diện tích nào.
Thứ ba, không có căn cứ để xác định bà Đ sử dụng ổn định, lâu dài đối với 912m² đất tranh chấp. Các văn bản giải quyết khiếu nại trước đây có nhiều chứng cứ quan trọng nhưng không được đưa vào, dẫn đến xác định không khách quan và đúng đắn. Cụ thể là Quyết định số 2963/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh S ngày 6/11/2018 (BL 288) đã nhận định “Năm 1996 xáng múc kênh làm lộ từ T đi Hòa Tú 2 ảnh hưởng phần 464m² bà Huỳnh Thị Đ đang sử dụng nên bà Đắc di d lên ruộng ở, bỏ lại nền đất trống. Năm 1999, bà Huỳnh Thị Đắc t về cất lại nhà thì ông L ngăn cản”. Đây là nhận định mập mờ, sai sự thật, vì nhà của bà Đ đã bị giải tỏa trắng thì không thể còn diện tích nào khác và diện tích 458,7m² đất tranh chấp không bị ảnh hưởng gì cả do là “đất trống” được ông L quản lý khai thác liên tục. Công văn số 328/UBND-VP ngày 7/4/2023 đã dựa vào các lập luận đã bị hủy bỏ vì quy trình giải quyết không đúng chức năng, ra quyết định hành chính sai trái dẫn đến hậu quả là ông Lâm Văn L có GCN.QSDĐ mà giải quyết cho bà Đ nhận bồi thường thiệt hại là không đúng với quy định pháp luật. Thay vì UBND thừa nhận đã sai thì UBND lại dùng nhận định cũ để trả lời với Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng nên không khách quan, không đúng nguồn gốc thật sự của phần đất tranh chấp.
Hơn nữa, tất cả các văn bản của UBND các cấp đều xác định 464m² đất tranh chấp là đất trống, đất vườn tạp (có cây bần, mắm, dừa...), chứ không phải do bà Đắc d1 nhà đi bỏ lại đất trống và nền nhà bà Đ ở vị trí khác.
Theo Biên bản xác minh của Thanh tra tỉnh Sóc Trăng ngày 14/9/2018 (BL 306-308) nêu: “Theo kết quả đo đạt ngày 5/2/2004 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, bà Đ sử dụng 464m².....Năm 1996 xáng múc kênh làm lộ ảnh hưởng phần đất bà Đ đang ở nên bà dời nhà lên ruộng ở, bỏ lại nền đất trống. Sau đó ông T3 cất nhà sửa xe trên phần đất trống bà Đắc bỏ lại, bà T4 cũng cất nhà ở trên phần đất này”.
Tại Biên bản lấy lời khai bà T4 và ông T3 ngày 6/9/2018 (BL 305) có nội dung: Ông T3 ông đã cất nhà sửa xe từ năm 1999, cặp nhà bà T4 (tại 464m² này); khi ông đến ở thì trên đất đã có nhà của bà T4, ông ở được 3 năm thì dời nhà đi nơi khác, khi ông dời đi thì nhà bà T4 vẫn còn. Còn bà T4 cho biết bà ở trên đất ông L từ trước giải phóng đến nay, đối diện nhà xe của bà Bé M.
Như vậy, bà T4 sử dụng từ trước ngày giải phóng chứ không phải sau khi bà Đ lên ruộng ở và nếu có người sử dụng phần đất 458,7m² thì đó là bà T4 chứ không phải bà Đ. Do đó cũng không có việc ông L chiếm lại sử dụng sau khi bà Đ lên ruộng ở, mà phần đất này có nguồn gốc từ ông S cho bà T4 ở nhờ và ông L là người thừa kế của ông S đã quản lý từ trước đến nay.
Các văn bản của UBND các cấp cho rằng gia đình bà Đ không ở đây từ năm 1970 đến 1975 nhưng thực tế bà Đắc bỏ đi về Thạnh Thới A ở từ năm 1968 đến 1978 mới quay lại xin tiếp tục ở nhờ nên thời gian bà Đ không ở trên đất tranh chấp là 10 năm chứ không phải 5 năm và sau đó từ năm 1996 bà Đ về ở luôn tại đất gốc của bà được Nhà nước cấp mà không còn ở trên đất tranh chấp.
Việc UBND chi trả tiền bồi thường đất cho bà Đ là hoàn toàn không có căn cứ vì bà Đ không được cấp giấy chứng nhận với phần đất 323,3m² này mà người người được cấp GCN.QSDĐ là ông L. Khi bà Đ nhận tiền, ông L có khiếu nại nhưng UBND huyện chỉ trao đổi miệng chứ không nhận đơn. Gia đình ông L đã rút khiếu nại đối với số tiền này là để thể hiện thiện chí chứ không phải là do tranh chấp đã được giải quyết và công nhận đất của bà Đ như Công văn 328 đã nêu.
Do đó, ông L kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L buộc bà Đ trả lại cho ông L 458,7m² thuộc thửa số 87, tờ bản đồ số 6 tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và buộc bà M tháo dỡ nhà trả lại phần đất trên cho ông L.
Ngày 27/6/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng kháng nghị bản án sơ thẩm. Lý do kháng nghị:
Về tố tụng: Ông B1 là chồng của bị đơn bà Nguyễn Thị Bé M được xác định ngay từ khi thụ lý vụ án là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên trong bản án không đưa ông B1 vào tham gia phiên tòa, từ đó bản án đã nhận định tại trang 8 những người vắng mặt tại phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt thì không có tên ông B1. Điều đó cho thấy Tòa án không đưa ông Nguyễn Văn B1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở giai đoạn xét xử, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông B1, làm cho ông B1 không được tham gia phiên tòa, không thực hiện được quyền kháng cáo bản án.
Mặt khác, phiên tòa được Hội đồng xét xử tiến hành nghị án 02 lần vào ngày 20/10/2022 và ngày 05/6/2023, nhưng lại không tuyên án mà lại quyết định tạm ngừng phiên tòa, quyết định tạm định chỉ và ra quyết định hoãn phiên tòa, sau đó tuyên án vào ngày 12/6/2023. Như vậy là chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 264 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là sau khi nghị án, Hội đồng xét xử phải tuyên án.
- Về nội dung:
Theo Bản án sơ thẩm tuyên xử: “Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Văn L về việc yêu cầu buộc bà Huỳnh Thị Đ trả số tiền 60.000.000 đồng; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L về việc yêu cầu buộc bà M tháo dỡ toàn bộ nhà xây dựng trên đất để trả lại cho ông phần đất có diện tích 464m² (theo đo đạc thực tế là 458,7m²); Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Huỳnh Thị Đ; Công nhận phần đất có diện tích 458,7m², loại đất LNK, thuộc thửa số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đ. Hủy một phần GCN.QSDĐ số C896753 (số vào sổ 00054) do UBND huyện M cấp cho hộ ông L ngày 05/5/1994 đối với diện tích đất 458,7m², loại đất LNK, thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng” là có vi phạm về đánh giá chứng cứ trong việc giải quyết vụ án; cụ thể:
Về nguồn gốc phần đất tranh chấp, theo hồ sơ thể hiện thửa đất 87, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng trước đây là của ông Lâm Văn S (cha của ông L). Năm 1947, ông Sáu D (cha của bà Đ) chạy giặc vào cư ngụ ở ấp L, xã G 1 làm công cho ông S, được ông S cho ở nhờ một nền thổ cư để cất nhà ở. Như vậy cha, mẹ của bà Đ chỉ được ở nhờ trên đất này. Năm 1968 chồng bà Đ hy sinh, bà mới trở về ở với cha, mẹ. Đến năm 1970 gia đình bà Đ về Thạnh Thới A ở. Đến năm 1978, bà Đ cùng mẹ là bà L4 trở lại xin được tiếp tục ở nhờ trên đất này. Quá trình sử dụng đất không liên tục, có sự gián đoạn.
Ông L được UBND huyện M cấp GCN.QSDĐ ngày 05/5/1994. Đến ngày 06/4/2004 (BL13) và ngày 09/11/2009 (BL19) UBND huyện M ra quyết định thu hồi và hủy GCN.QSDĐ ngày 05/5/1994 của ông L. Tuy nhiên đến ngày 19/11/2018 các quyết định thu hồi và hủy GCN.QSDĐ trên đã được UBND huyện M thu hồi lại, lý do chưa đảm bảo căn cứ pháp lý theo quy định của pháp luật đất đai (BL30) và cho đến nay thửa đất trên ông L vẫn đứng tên GCN.QSDĐ. Bị đơn bà Đ cũng thừa nhận nguồn gốc phần tranh chấp là của ông S (cha ông L) nhưng bà cho rằng vào năm 1945 ông Sáu D, bà Nguyễn Thị L4 (cha mẹ của bà Đ) là người làm công cho ông S. Lúc đó, ông S có cho cha, mẹ bà Đ một phần đất để cất nhà ở và có trồng dừa, trâm bầu...Lúc cho không có đo đạc, nhưng khi cha, mẹ bà ở thì có đào mương lấy đất cất nhà, xung quanh trồng cây trái và có ranh đất rõ ràng. Tuy nhiên ngoài lời trình bày ra bà Đ không có tài liệu, chứng cứ nào khác và không được phía nguyên đơn ông L thừa nhận. Mặt khác, lời trình bày này của bà Đ cũng không phù hợp với các tình tiết khách quan trong vụ án.
Vì, tất cả các văn bản của UBND huyện M cũng như UBND tỉnh S trong quá trình giải quyết khiếu nại của ông L đều xác nhận ông S (cha ông L) đã cho ông D (cha bà Đ) ở nhờ là loại đất để ở, chứ không phải là đất trồng trọt, nhưng trên thực tế phần đất tranh chấp có diện tích 464m² (theo đo đạc thực tế 458,7m²) tại thửa số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng là đất vườn tạp. Còn phần đất có căn nhà của bà Đ vào năm 1996 khi Nhà nước đào kênh làm lộ thì mới xác định có diện tích 323,7m² và đã bị giải tỏa trắng, bà Đ đã nhận tiền bồi thường xong. Tòa án chưa làm rõ phần đất có diện tích 464m² (theo đo đạc thực tế 458,7m²) và phần đất có diện tích 323,7m² phần đất mà bà Đ đang sử dụng đã bị giải tỏa trắng là phần đất nào, do đó cần phải tách ra để làm rõ 02 diện tích này.
Mặt khác, tại Công văn số 512/UBND-VP ngày 07/7/2020 của UBND huyện M khẳng định việc cấp GCN.QSDĐ cho hộ ông L đứng tên là đúng trình tự, thủ tục theo quy định (BL112).
Ngoài ra, Công văn số 293/UBND-VP ngày 10/5/2022, UBND huyện M khẳng định: Hộ ông L được UBND huyện M cấp GCN.QSDĐ số 00054/C896753, thửa thửa 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 05/5/1994 là đúng đối tượng.
Mặc dù ngày 07/4/2023 UBND huyện M có Công văn số 328/UBND-VP về việc thông tin việc cấp GCN.QSDĐ nêu: “Phần đất tranh chấp giữa ông Lâm Văn L và bà Huỳnh Thị Đ có diện tích 912m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nằm trong GCN.QSDĐ của hộ ông L, trong đó diện tích 464m² là đất của gia đình bà Huỳnh Thị Đ”. Tuy nhiên, theo Sổ mục kê ruộng đất gồm 30 trang từ 1 đến 50 (BL115-117) và Sổ địa chính của ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Mã số đăng ký 0413060054, số GCN.QSDĐ C896753, trong đó có thửa thửa 87, diện tích 2.672m², loại LNK do ông L sử dụng. Việc cấp đất cho hộ ông L, UBND huyện M dựa trên Sổ mục kê ruộng đất và Sổ địa chính của ấp L và quá trình sử dụng đất của ông L nên UBND cấp GCN.QSDĐ số C896753 cho ông L là phù hợp quy định của pháp luật.
Về quá trình sử dụng phần đất tranh chấp thuộc thửa 87 thì theo Sổ mục kê ruộng đất là do ông Lâm Văn L sử dụng. Do đó, nguyên đơn ông L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Bé M tháo dỡ toàn bộ nhà xây dựng trên phần đất của gia đình ông L là có căn cứ chấp nhận.
Từ phân tích trên, nhận thấy chưa đủ cơ sở để xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp tranh chấp có diện tích 464m² (theo đo đạc thực tế 458,7m²) tại thửa số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng là của bà Đ, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn.
Do đó, đề nghị Tòa phúc thẩm xét xử theo hướng hủy bản án dân sự sơ thẩm để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người kháng cáo ông Lâm Văn L (do bà Lâm Ngọc T đại diện) cùng luật sư P2, trình bày: Giữ nguyên lý do và yêu cầu kháng cáo theo đơn kháng cáo đã gửi cho Tòa án. Không cung cấp chứng cứ mới. Các lý do và căn cứ nêu trong đơn kháng cáo là có căn cứ, rõ ràng; Bà T khẳng định ông S không phải là địa chủ như Công văn số 328/UBND-VP ngày 07/4/2023 của UBND huyện M đã nêu, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông L, sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cáo tại Thành phố Hồ Chí Minh, trình bày: Thay đổi phần kháng nghị về thủ tục tố tụng là đề nghị Hội đồng xét xử xác định ông Nguyễn Văn B1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm, do tại cấp phúc thẩm có mặt ông B1 và ông B1 trình bày đồng ý với trình bày của bị đơn bà Nguyễn Thị Bé M vợ ông B1 tại cấp sơ thẩm nên ông không khiếu nại việc Tòa cấp sơ thẩm không đưa ông tham gia tố tụng. Tại phiên tòa phúc thẩm ông B1 đồng ý tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn Nguyễn Thị Bé M, nên việc đưa ông B1 tham gia tố tụng là đủ đảm bảo quyền lợi cho ông B1. Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ kháng nghị.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ1 (do ông Võ Vũ T1 đại diện), cùng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, trình bày: Bảo lưu quan điểm đã trình bày ở cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B1 cùng trình bày: Đồng ý với quyết định của án sơ thẩm, không đồng ý với kháng cáo và yêu cầu khởi kiện của ông L; bà M và ông B1 nhận chuyển nhượng phần đất đang tranh chấp hiện nay từ bà Đ1 vào năm 2009, thời điểm nhận chuyển nhượng thì bà Đ1 đã có quyết định giải quyết khiếu nại của UBND huyện M công nhận phần đất tranh chấp là của bà Đ1, hiện nay tài sản trên phần đất tranh chấp là của ông B1, bà M; Trong án sơ thẩm có giao phần đất tranh chấp cho bà Đ1 được kê khai đăng ký bà M và ông B1 biết nhưng không kháng cáo, vì bà M và ông B1 đồng ý để cho bà Đ1 kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, sau đó bà M và ông B1 sẽ yêu cầu bà Đ1 ký hợp đồng sang tên quyền sử dụng đất được Tòa công nhận lại cho bà M và ông B1.
- Ông T1 đại diện bà Đ1 đồng ý, nếu được Tòa án công nhận phần đất tranh chấp là của bà Đ1 thì khi bà Đ1 kê khai đăng ký và được cấp GCN.QSDĐ thì bà Đ1 sẽ lập thủ tục sang tên phần đất được án Tòa công nhận lại cho bà B1 M và ông B1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Thẩm phán; Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận thay đổi kháng nghị của Viện kiểm sát về phần thủ tục tố tụng như nêu trên.
Về nội dung: Khi giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện chứng cứ, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, tại cấp phúc thẩm không có căn cứ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
+ Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng và kháng cáo của nguyên đơn là trong hạn luật định và hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo còn lại đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
+ Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại 26, 34, 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Đối với phần kháng nghị thủ tục tố tụng về việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Nguyễn Văn B1 là chồng bị đơn bà Nguyễn Thị Bé M vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Xét thấy, tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Biên bản phiên tòa sơ thẩm, Quyết định sửa chữa bổ sung bản án sơ thẩm số 244/2023/QĐ-SCBSBA ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đều thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa ông Nguyễn Văn B1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Nguyễn Văn B1 vào tham gia tố tụng là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
+ Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về phần nội dung của bản án sơ thẩm nên căn cứ khoản 3 Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng nghị này của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Về nội dung: Đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Văn L, xét:
[1] Năm 1993, ông L kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và đã được UBND huyện M cấp GCN.QSDĐ số 54/C.896753 ngày 05/5/1994 gồm 07 thửa với tổng diện tích 24.549 m²; trong đó có thửa số 87 với diện tích 2.672m², tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Tại thửa 87 nêu trên có cả phần đất của gia đình bà Đ1 đang sử dụng.
Theo Sơ đồ vị trí đất ngày 06/02/2004 do Phòng Nông nghiệp - Địa chính huyện M lập thì phần đất ông L và bà Đ1 tranh chấp thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6 tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã được UBND huyện M cấp GCN.QSDĐ nêu trên cho hộ ông L; diện tích đất tranh chấp gồm 03 phần, phần ký hiệu “a” là 464m² đất bà Đ1 sử dụng, phần ký hiệu “b” là 125m² đất đường đi công cộng và phần ký hiệu “c” là 323m² đất kênh lộ. Trong đó, phần “c” đã bị Nhà nước thu hồi để xây dựng Đường tỉnh lộ 4 đoạn từ T đi H (do bà Đ1 là người được nhận số tiền 64.974.400 đồng đền bù, hỗ trợ vào ngày 26/12/2013).
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/01/2021 của Tòa án và đo đạc ngày 15/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì phần đất ông L và bà Đ1 đang tranh chấp thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ 06, diện tích 458,7m², loại đất LNK; Có vị trí:
- Hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa đất số 87 có số đo: 34,39m;
- Hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa đất số 87 có số đo: 29,80m;
- Hướng Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 87 có số đo: 14,93m;
- Hướng Bắc giáp đường đá có số đo: 14,47m;
Tài sản trên đất gồm: Nhà xưởng (kho thông dụng có diện tích ngang 10,7m x dài 24m = 256,8m²; kết cấu khung cột bê tông cốt thép + kèo bê tông cốt thép, vách tường, máy tole, nền bê tông lót, láng xi măng. Máy che có diện tích ngang 8,35m x dài 18,25m = 152,39m²; kết cấu mái tole + đỡ mái gỗ, cột bê tông đúc sẵn. Sàn đá dăm có diện tích ngang 8,35m x dài 18,25m = 152,39m²; kết cấu mặt sàn cấp phối đá dăm (mặt tường). Sân có diện tích 10m x dài 8,35m =83,5m²; kết cấu nền bê tông trung bình dài 10cm. Cây trồng: 01 cây dừa loại A, 01 cây đu đủ loại A.
Tại đơn khởi kiện ngày 10/10/2019, ông L yêu cầu bà Nguyễn Thị Bé M trả lại phần đất có diện tích 464m² và yêu cầu bà Đ1 trả khoản tiền mà bà Đ1 đã nhận do Nhà nước bồi thường khi thu hồi 448m² đất tranh chấp. Bà Đ1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông L và phản tố yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 912m² - thửa số 87 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đ1 và hủy một phần GCN.QSDĐ số C 896753, số vào sổ 00054 do UBND huyện M cấp cho hộ ông L ngày 05/5/1994 đối với thửa số 87 nêu trên.
Sau đó, ông L tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện buộc bà Đ1 trả khoản tiền mà bà Đ1 đã nhận do Nhà nước bồi thường khi thu hồi 448m² đất tranh chấp. Từ đó bà Đ1 thay đổi yêu cầu phản tố thành yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 458,7m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đ1 và hủy một phần GCN.QSDĐ đã cấp cho ông L đối với thửa 87 nêu trên.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông L về việc yêu cầu bà Đ1 trả số tiền 60.000.000 đồng đã nhận do Nhà nước bồi thường khi thu hồi 448m² đất thuộc thửa số 87; xác định yêu cầu khởi kiện của ông L buộc bà M tháo dỡ toàn bộ nhà xây dựng trên đất để trả lại cho ông L phần đất có diện tích 464m² (theo đo đạc thực tế là 458,7m²) thuộc thửa 87; phản tố của bà Đ1 là yêu cầu công nhận diện tích đất 458,7m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đ1 và hủy một phần GCN.QSDĐ đã cấp cho ông L đối với thửa 87 là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét thấy, theo thừa nhận của các bên đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Phần đất ông L tranh chấp có nguồn gốc là của ông Lâm Văn S (cha ruột ông L– theo xác nhận tại Công văn 328/UBND, ngày 07/4/2023 của UBND huyện M). Năm 1947, ông Huỳnh Văn D1 và bà Nguyễn Thị L4 (cha mẹ ruột bà Đ1) vào làm công cho gia đình ông S, được ông S cho cất nhà ở trên đất của ông S. Năm 1968, chồng bà Đ1 hy sinh, bà Đ1 về sống với cha mẹ ruột tại phần đất được ông S cho ông D1. Khoảng năm 1969, gia đình bà Đ1 về xã T. Năm 1975, bà Đ1 cùng bà L4 (chết năm 1993) trở về cất nhà ở trên phần đất đã được ông S cho ở trước đây cho đến năm 1996.
Năm 1996, bà Huỳnh Thị Đ kê khai, đăng ký và được UBND huyện M cấp GCN.QSDĐ số 149/H 246802 ngày 17/01/1996 với tổng diện tích 10.839m², tờ bản đồ số 6 cũng tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, trong đó có thửa đất số 95, diện tích 771m², loại đất T+LN là đất của ông Lâm Văn L cho con rể là ông Nguyễn Thanh D2 sử dụng.
Cũng trong năm 1996, xáng múc kênh làm lộ từ T đi Hòa Tú 2 làm ảnh hưởng phần đất bà Đ đang sử dụng nên bà Đắc di d nhà lên đất ruộng ở, bỏ lại nền đất trống đến năm 1999 bà Đ trở lại tiếp tục sử dụng. Đến năm 2009, bà Đ lập giấy tay chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất 464m² này cho bà Nguyễn Thị Bé M để cất nhà kho làm cơ sở sản xuất cho đến nay.
[3] Trước khi ông L khởi kiện bà Đ tại Tòa án, tranh chấp giữa ông L và bà Đ đã được UBNB huyện M và UBND tỉnh S nhiều lần giải quyết; cụ thể:
Vào ngày 06/4/2004, Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định số 207/QĐ.HC.04, thu hồi GCN.QSDĐ của hộ bà Huỳnh Thị Đ và Quyết định số 208/QĐ.HC.04, thu hồi GCN.QSDĐ của hộ ông Lâm Văn L để điều chỉnh theo kiến nghị của Phòng Nông nghiệp Địa chính (nay là Phòng T) huyện M. Ông Lâm Văn L không đồng ý nên có đơn khiếu nại.
Ngày 25/11/2005, Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định số 530/QĐKN-CTUBH, bác đơn khiếu nại của ông L, công nhận Quyết định số 208/QĐ.HC.04 và buộc ông L giao lại diện tích đất 464m² (đã trừ diện tích đường đi công cộng và kênh lộ) cho bà Đ quản lý, sử dụng. Ông L và bà Đ đều không đồng ý và khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh S.
Ngày 15/5/2007, Chủ tịch UBND tỉnh S ban hành Quyết định số 96/QĐKN-CTUBND, công nhận Quyết định số 530/QĐKN-CTUBH ngày 25/11/2005 của Chủ tịch UBND huyện M, bác đơn khiếu nại của ông L và bà Đ. Ông L tiếp tục khiếu nại.
Ngày 07/7/2009, Chủ tịch UBND tỉnh S ban hành Quyết định số 64/QĐKN-CTUBND với nội dung thu hồi Quyết định số 96/QĐKN-CTUBND ngày 15/5/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh S và hủy bỏ các Quyết định số 530/QĐKN-CTUBH ngày 25/11/2005, Quyết định số 207/QĐ.HC.04 và Quyết định số 208/QĐ.HC.04 ngày 06/4/2004 của Chủ tịch UBND huyện M.
Ngày 09/11/2009, UBND huyện M ban hành Quyết định số 204/QĐ-UBND và Quyết định số 205/QĐ-UBND, thu hồi GCN.QSDĐ của hộ ông L và hộ bà Đ để điều chỉnh lại diện tích theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, ngày 29/10/2004 của Chính phủ. Bà Đ đồng ý thực hiện và giao nộp GCN.QSDĐ, còn ông L không đồng ý.
Ngày 08/12/2017, UBND huyện M ban hành Quyết định số 974/QĐ-UBND, hủy GCN.QSDĐ đã cấp cho hộ ông L. Ông L không đồng ý, có đơn khiếu nại đến UBND huyện M. Ngày 22/01/2018, Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định số 1918/QĐ-UBND, giữ nguyên Quyết định số 974/QĐ-UBND ngày 08-12-2017 và bác đơn khiếu nại của ông Lâm Văn L. Ông L tiếp tục khiếu nại đến UBND tỉnh S.
Ngày 06/11/2018, Chủ tịch UBND tỉnh S ban hành Quyết định số 2936/QĐ-UBND với nội dung giao Chủ tịch UBND huyện M thu hồi, hủy các Quyết định số 204/QĐ-UBND ngày 09/11/2009, Quyết định số 974/QĐ-UBND ngày 08/12/2017 và Quyết định số 1918/QĐ-UBND ngày 22/01/2018 và hướng dẫn ông L khởi kiện tại Tòa án. Đến ngày 19/11/2018, UBND huyện M ban hành Quyết định số 179/QĐ-UBND và Chủ tịch UBND huyện M ban hành Quyết định số 3609/QĐ-UBND để thu hồi, hủy 03 Quyết định này.
[4] Quá trình giải quyết vụ án phía ông L cho rằng gia đình bà Đ chỉ được ông Lâm Văn S cho ở nhờ một nền đất để cất nhà ở nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Trong khi hồ sơ vụ án thể hiện phần đất tranh chấp đã được gia đình bà Đ sử dụng từ khoảng năm 1947 cho đến năm 1996 và 01 cây dừa mà bà Đ đã trồng hiện vẫn còn tại mốc tọa độ số 3 (theo Sơ đồ đo đạc ngày 15/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Sóc Trăng).
Mặt khác, tại các Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 17/12/2021, ngày 29/3/2022 thì các ông Lương Bạch N3, ông Đinh Văn B3, ông Đào Khương Ú, bà Trịnh Thị T5, bà Phan Thị Kỳ N4 trình bày: Ông L không trực tiếp sử dụng phần đất tranh chấp mà phần đất này do cha mẹ bà Đ là ông Huỳnh Văn D1 và bà Nguyễn Thị L4 sử dụng từ trước năm 1975, sau năm 1975 thì bà Đ và gia đình tiếp tục sử dụng.
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Người sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Đối chiếu với quy định này thì bà Đ là người có đủ điều kiện để được công nhận có quyền sử dụng đối với phần đất tranh chấp.
[5] Đồng thời, thời điểm UBND huyện M cấp GCN.QSDĐ cho hộ ông L là thực hiện chủ trương cấp CGN.QSDĐ đại trà; chỉ căn cứ vào đơn xin cấp giấy của hộ ông L đã được Hội đồng xét cấp GCN.QSDĐt của UBND xã G 1 xét đủ điều kiện, không tranh chấp và được Phòng Nông nghiệp - Địa chính (nay là Phòng T) huyện M thẩm định mà không căn cứ vào quá trình quản lý, sử dụng đất trên thực tế; Nên đã công nhận cho hộ ông L được quyền sử dụng thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, diện tích 2.672m² nhưng gồm cả phần diện tích đất 464m² mà bà Đ đang sử dụng là không đúng đối tượng.
Tại Văn bản số 328/UBND-VP ngày 07/4/2023 của UBND huyện M cũng xác nhận việc cấp GCN.QSDĐ cho hộ ông L đối với diện tích 464m2 do bà Đ sử dụng là không đúng đối tượng.
Ngoài ra, tại Sổ mục kê ruộng đất và Sổ đăng ký ruộng đất (BL115-118) của ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thể hiện: Thửa đất số 87, diện tích 2.672m² do ông L đứng tên GCN.QSDĐ số C896753. Nhưng hai sổ này đều lập ngày 24/9/1996, là sau ngày ông L được UBND huyện M cấp Giấy chứng nhận (ngày 05/5/1994) nên không có cơ sở cho rằng Giấy chứng nhận cấp cho hộ ông L được cấp dựa trên Sổ Mục kê và Sổ Đăng ký ruộng đất. Hơn nữa, việc ghi nhận hộ ông L là người sử dụng toàn bộ diện tích đất 2.672m² thuộc thửa đất số 87 trong Sổ Mục kê ruộng đất và Sổ Địa chính nêu trên cũng không phù hợp thực tế quá trình sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 1975 cho đến năm 1996 của gia đình bà Đ. Vì vậy, 02 tài liệu này không có giá trị xác định hộ ông L là người sử dụng phần đất tranh chấp 464m².
[6] Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 thì việc sử dụng đất ổn định là điều kiện để được Nhà nước xét và cấp GCN.QSDĐ, quy định này không bắt buộc người được xét cấp Giấy chứng nhận phải sử dụng đất liên tục. Mặt khác, phần đất tranh chấp đã được gia đình bà Đ sử dụng từ năm 1947 đến 1970 và từ 1975 đến 1996; mặc dù việc sử dụng có gián đoạn từ năm 1970 đến 1975 nhưng không vì lý do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết hoặc có tranh chấp. Và theo quy định tại Điều 167 của Bộ luật Dân sự năm 1995 (sau này là Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 153 Bộ luật Dân sự năm 2015) thì việc sử dụng đất của gia đình bà Đ trong trường hợp này cũng là liên tục.
Đồng thời như đã phân tích nêu trên, do ông L không có tài liệu, chứng cứ chứng minh gia đình bà Đ chỉ được ông Lâm Văn S cho ở nhờ nên bà Đ đã đủ điều kiện để được công nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật dân sự năm 1995 (sau này là Điều 247, Điều 261 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 184, Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015).
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông L và chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đ về việc yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 458,7m² tranh chấp thuộc thửa số 87 nêu trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đ và hủy một phần GCN.QSDĐ số C 896753 (số vào sổ 00054) do UBND huyện M cấp cho hộ ông Lâm Văn L ngày 05/5/1994 đối với phần diện tích đất trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[7] Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận đề nghị của luật sư Sơn Thị P1; không chấp nhận đề nghị của Luật sư Trần Thanh P và kháng cáo của ông Lâm Văn L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lâm Văn L là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Quyết định khác của án sơ thẩm về án phí, chi phí tố tụng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 289, khoản 1 Điều 308, Điều 309; Khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Khoản 1 Điều 2 Luật đất đai năm 1993; Điều 167, Điều 255 của Bộ luật dân sự năm 1995 và Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về phần nội dung của Bản án sơ thẩm số 36/2023/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về phần thủ tục tố tụng và không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Văn L; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 36/2023/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn L về việc yêu cầu Tòa án buộc bà Huỳnh Thị Đ trả số tiền 60.000.000 đồng đã nhận do Nhà nước bồi thường khi thu hồi 448m² đất thuộc thửa thuộc thửa số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn L về việc yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Bé M tháo dỡ toàn bộ nhà xây dựng trên đất để trả lại cho ông Lâm Văn L phần đất có diện tích 464m² (theo đo đạc thực tế là 458,7m²) nằm trong thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Huỳnh Thị Đ:
- Công nhận phần đất có diện tích 458,7m², loại đất LNK, thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Huỳnh Thị Đắc . Đất có vị trí theo Sơ đồ đo đạc ngày 15/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Sóc Trăng như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa đất số 87, có số đo 34,39m;
- Hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa đất số 87, có số đo: 29,80m;
- Hướng Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 87, có số đo: 14,93m;
- Hướng Bắc giáp đường đá có số đo: 14,47m;
(kèm theo Sơ đồ đo đạc)
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 896753 (số vào sổ 00054) do Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Lâm Văn L ngày 05/5/1994 đối với diện tích đất 458,7m², loại đất LNK, thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Huỳnh Thị Đ có quyền thực hiện các thủ tục đăng ký để được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất nêu trên:
- Công nhận phần đất có diện tích 458,7m², loại đất LNK, thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Huỳnh Thị Đắc . Đất có vị trí theo Sơ đồ đo đạc ngày 15/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Sóc Trăng như sau:
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lâm Văn L không phải nộp.
- Quyết định khác của án sơ thẩm về án phí, chi phí tố tụng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, co quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN–CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Hà Huy Cầu |
Nguyễn Văn Tửu |
|
Lê Thành Long |
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng; - Các đương sự (17); – Lưu VT (5), HS (2), 29b, (ÁN09) |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Tửu |
Bản án số 760/2023/DS-PT ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại qsdđ cho ở nhờ; hủy giấy chứng nhận qsdđ; yêu cầu công nhận qsdđ
- Số bản án: 760/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại QSDĐ cho ở nhờ; Hủy giấy chứng nhận QSDĐ; Yêu cầu công nhận QSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sở thẩm
