|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76 /2024/HS-ST Ngày 31/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Minh Tân và ông Trần Thế Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024, đối với bị cáo:
HOÀNG THỊ ĐẸP;
Sinh ngày 18/11/1971, tại tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn A, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Thẻ CCCD số: [...]; Cấp ngày 09/08/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Cao Lan; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Văn P, sinh năm 1938 (đã chết); Con bà: Âu Thị M, sinh năm 1939; Chồng: Bàn Hồng T, sinh năm 1971 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người làm chứng: Hoàng Thị T1. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2023, Hoàng Thị Đ, trú tại thôn A, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang làm việc phụ xây tại thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có quan hệ tình cảm với Quách Văn T2, trú tại xóm T, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình. Do Đ không thích tên trong giấy khai sinh và không muốn T2 biết năm sinh của mình là "1971" nên Đ nói với T2 tên của mình là 'L" và sinh năm "1985", sau đó Đ nảy sinh ý định mua căn cước công dân giả để sử dụng.
Cũng trong tháng 6/2023 (không nhớ thời gian cụ thể), Đ sử dụng điện thoại di động truy cập tài khoản Facebook của Đ tên “Hoang Lan” thì thấy có bài đăng quảng cáo với nội dung “làm bằng lái xe, sổ bìa đỏ và các loại văn bằng, chứng chỉ, giấy tờ”. Đẹp nhắn tin cho người đăng bài thông qua ứng dụng Messenger để đặt mua căn cước công dân giả với giá 700.000 đồng. Đẹp gửi số điện thoại của Đ là 0865.046.xxx cho người này để liên lạc (số điện thoại này Đ đăng ký tài khoản Zalo tên: Vầng Trăng C). Sau đó thông qua tài khoản Zalo, Đ nhắn tin cung cấp ảnh chân dung và thông tin cá nhân là "Hoàng Ngọc L1, sinh ngày 18/11/1985; Quê quán: K, TP ., tỉnh Tuyên Quang; Nơi thường trú: Thôn A, K, TP ., tỉnh Tuyên Quang" để làm căn cước giả (Đẹp không nhớ tên tài khoản Facebook, đã xóa các tin nhắn trên tài khoản Messenger, Z) và thỏa thuận thanh toán tiền khi nhận hàng. Khoảng 01 tuần sau, khi Đ đang làm việc tại tại thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc thì nhận được một gói bưu phẩm do một nhân viên giao hàng là nam giới chuyển đến (Không xác định được người giao hàng), Đẹp kiểm tra thấy trong gói bưu phẩm là căn cước công dân mà Đ đặt mua nên trả cho người giao hàng 700.000 đồng rồi cất căn cước công dân giả vào trong cốp xe mô tô để sử dụng.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/02/2024, Đ đến quầy giao dịch số 07, Ngân hàng T3 (M1) chi nhánh tỉnh T, thuộc tổ dân phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang để đăng ký mở tài khoản ngân hàng, thông qua chị Hoàng Thị T1 là chuyên viên tư vấn yêu cầu Đ xuất trình căn cước công dân để làm thủ tục mở tài khoản ngân hàng thì Đ xuất trình căn cước công dân giả nêu trên để làm thủ tục. Quá trình kiểm tra, chị Hoàng Thị T1 thấy căn cước công dân của Đ xuất trình có dấu hiệu làm giả nên đã báo cáo sự việc trên với lãnh đạo Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 chi nhánh tỉnh T và báo tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố.
Kết luận giám định số 353/KL-KTHS, ngày 05/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “CĂN CƯỚC CÔNG DÂN” số [...], đứng tên Hoàng Ngọc L1, sinh ngày 18/11/1985; đề ngày cấp 16/06/2023 là giả. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với nội dung Kết luận giám định.
Cáo trạng số: 69/CT-VKSTP ngày 17 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố: Bị cáo Hoàng Thị Đ về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Đ phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị Đ từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Thời hạn thử thách đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 31/7/2024) giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy bị cáo là người không có công việc làm ổn định, phạm tội ít nghiêm trọng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 Căn cước công dân giả số [...], mang tên 'Hoàng Ngọc L1, sinh ngày 18/11/1985", quê quán: “Kim Phú, TP ., Tuyên Quang”; nơi thường trú: “Thôn A, K, TP ., Tuyên Quang”; cấp ngày 16/6/2023, người ký cấp Nguyễn Quốc H. Không có giá trị sử dụng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Ý kiến của bị cáo Hoàng Thị Đ: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt, Do bị cáo thiếu hiểu biết, suy nghĩ cảm tính nên đã thực hiện hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo hứa sẽ tuyệt đối rèn luyện bản thân trong thời gian thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Tại phiên tòa người làm chứng Hoàng Thị T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.
[3].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng vật chứng thu giữ là thẻ căn cước công dân giả; lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/02/2024, tại quầy giao dịch số 07, Ngân hàng T3 (M1) Chi nhánh tỉnh T, thuộc tổ dân phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Hoàng Thị Đ đã có hành vi sử dụng căn cước công dân giả để làm thủ tục mở tài khoản ngân hàng.
[4]. Khoản 1, khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
[5]. Căn cứ vào tính chất mức độ, động cơ mục đích của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[6]. Xét các yếu tố cấu thành của tội phạm: Bị cáo là người đã trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải nhận thức được hành vi cố ý sử dụng thẻ căn cước công dân giả của bị cáo là trực tiếp xâm phạm đến quy định của nhà nước và hoạt động bình thường của các cơ quan tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác, gây ảnh hưởng đến quản lý hành chính của nhà nước, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội, do đó cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đang diễn ra rất phức tạp và nguy hiểm trong tình hình hiện nay.
[7]. Xét về nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội, Hội đồng xét xử - xét thấy: Nguyên nhân dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do nhận thức cảm tính chỉ vì không thích tên trong giấy khai sinh là Hoàng Thị Đ và không muốn bạn trai biết năm sinh của mình là "1971" nên bị cáo Đ đã giao dịch mua căn cước công dân giả có số [...], mang tên 'Hoàng Ngọc L1, sinh ngày 18/11/1985", quê quán: “Kim Phú, TP Tuyên Quang”; nơi thường trú: “Thôn A, K, TP ., Tuyên Quang”; Cấp ngày 16/6/2023 để sử dụng và mở tài khoản ở Ngân hàng T3 như đã nêu trên.
[8]. Xét tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử, xét thấy: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, đã hoàn thành, nhưng không có tình tiết tăng nặng, khi sự việc bị phát hiện trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị Đ từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng là có căn cứ đúng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9]. Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Do bị cáo không có công việc làm ổn định, phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10]. Theo lời khai của bị cáo Đ trong vụ án còn có người sử dụng tài khoản Facebook và thông qua người giao hàng để bán thẻ căn cước công dân giả cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được thông tin tài khoản Facebook và thông tin người giao hàng nên không có căn cứ để xử lý trong cùng vụ án . Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[11].Về vật chứng: Ngày 01/02/2024, Cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo 01 Căn cước công dân giả số [...], mang tên "Hoàng Ngọc L1, sinh ngày 18/11/1985", quê quán: “Kim Phú, TP ., Tuyên Quang”; nơi thường trú: “Thôn A, K, TP ., Tuyên Quang”; cấp ngày 16/6/2023, người ký cấp Nguyễn Quốc H. Hội đồng xét xử, xét thấy vật chứng là loại tài liệu giả không có giá trị sử dụng; Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự. Tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
[12].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[13]. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Hoàng Thị Đ, phạm tội: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
- Hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị Đ 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/7/2024).
- Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
- Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, buộc bị cáo Hoàng Thị Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Báo cho Bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Hoàng Thị Đ cho Ủy ban nhân dân xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang theo dõi giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hoàng Thị Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: 01 Căn cước công dân giả số [...], mang tên 'Hoàng Ngọc L1, sinh ngày 18/11/1985", quê quán: “Kim Phú, TP ., Tuyên Quang”; nơi thường trú: “Thôn A, K, TP ., Tuyên Quang”; cấp ngày 16/6/2023, người ký cấp Nguyễn Quốc H
Đặc điểm, tình trạng của vật chứng đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên toà theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thu Hiền |
|
Các Hội Thẩm nhân dân Vương Minh Tân Trần Thế D |
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vũ Thu H1 |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự về tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HOÀNG THỊ ĐẸP BỊ XÉT XỬ VỀ TỘI SỬ DỤNG TÀI LIỆU GIẢI CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
