Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 76/2024/DS-ST

Ngày: 31 - 7 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Thương.
  2. Ông Phạm Xuân Trường.

Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 183/2024/TLST-DS, ngày 07 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 138/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị P, sinh năm 1982.

    Nơi cư trú: Đường số C, tổ C, thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1980 (Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2024).

    Nơi cư trú: Số E, đường số C, thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1991.

    Nơi cư trú: Số C, đường L, khu phố F, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 (Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2024).

    Nơi cư trú: Tổ G, thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Ông Châu Văn H1, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: Đường số C, tổ C, thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1980 (Văn bản ủy quyền ngày 27/5/2024).

Nơi cư trú: Số E, đường số C, thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

  • + Ông Trần Văn Á, sinh năm 1983.

Nơi cư trú: Số C, đường L, khu phố F, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt ông T và bà H; vắng mặt ông Á không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Đoàn Thị P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Châu Văn H1 là ông Nguyễn Quốc T trình bày: Bà Đoàn Thị P có cho bà Nguyễn Thị Kim T1 vay tiền 02 lần như sau:

  • Lần 1: Vào ngày 07/10/2023, cho vay số tiền 50.000.000 đồng, có lập giấy mượn tiền nhưng không ghi ngày tháng vay tiền;
  • Lần 2: Vào ngày 11/10/2023, cho vay số tiền 70.000.000 đồng, có lập giấy cho vay tiền đề ngày 11/10/2023.

Tổng số tiền vay của 02 lần là 120.000.000 đồng. Sau đó, bà T1 có trả được 30.000.000 đồng tiền lãi nhưng lại vay lại 15.000.000 đồng thành tổng số tiền vay là 135.000.000 đồng. Vào ngày 04/5/2024, bà P có nói với bà T1 là sẽ không lấy tiền lãi nữa nhưng phía bà T1 lại nghe là cho số tiền lãi đã trả trừ vào nợ gốc nên bà T1 viết thành giấy mượn tiền đề ngày 04/5/2024 với nội dung là có trả 45.000.000 đồng và còn nợ lại 90.000.000 đồng. Thực tế ngày hôm đó, bà P không nhận tiền từ bà T1. Sau khi hòa giải, các bên thống nhất là bà P chỉ yêu cầu vợ chồng bà T1 phải trả số tiền nợ 105.000.000 đồng gốc, không yêu cầu tính lãi, kể cả khoản tiền lãi chậm thi hành án sau này.

* Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T1 là bà Nguyễn Thị H trình bày: Khoảng tháng 5 hoặc tháng 6 năm 2023, bà Nguyễn Thị Kim T1 có vay của bà Đoàn Thị P số tiền 50.000.000 đồng. Sau khoảng 1 tuần, thì bà T1 có vay thêm số tiền 70.000.000 đồng (Do khi vay tiền không có ghi ngày tháng vào giấy vay tiền, sau đó bên phía bà P đã ghi ngày tháng vào giấy vay tiền là ngày 11/10/2023, đúng là giấy cho vay tiền đề ngày 11/10/2023 do nguyên đơn nộp). Lãi suất thỏa thuận lúc đầu là 10%/tháng, sau đó giảm xuống còn 5%/tháng. Sau đó, bà T1 có vay thêm của bà P số tiền 15.000.000 đồng, thành tổng số nợ là 135.000.000 đồng. Đến ngày 04/5/2024, bà P có nói là sẽ cho bà T1 tiền lãi đã trả 45.000.000 đồng, nên các bên có thỏa thuận trừ số tiền lãi đã trả vào toàn bộ số tiền gốc 135.000.000 đồng. Theo đó, có viết giấy mượn tiền đề ngày 04/5/2024, với nội dung là đã trả 45.000.000 đồng còn nợ lại số tiền 90.000.000

đồng. Thực tế, là ngày 04/5/2024, bà T1 không có trả cho bà P số tiền 45.000.000 đồng. Sau khi hòa giải, bà P yêu cầu bà T1 phải trả số nợ gốc 105.000.000 đồng thì bà đồng ý. Bà T1 vay tiền của bà P để đóng tiền lãi phát sinh từ các khoản nợ do bà T1 vay tiền để mua đất làm ăn. Bà Nguyễn Thị Kim T1 và ông Trần Văn Á đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 159/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Linh.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Á không tham gia nên không hòa giải được.

* Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H1 đã chấp hành đúng pháp luật. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Á không chấp hành đúng pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Nguyễn Thị Kim T1 và ông Trần Văn Á phải trả cho bà Đoàn Thị P và ông Châu Văn H1 số tiền nợ 105.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, có mặt ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị H; ông Trần Văn Á đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có tài liệu, chứng cứ thể hiện sự vắng mặt của ông Á là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với ông Á.

[2] Nội dung vụ án:

[2.1] Về hợp đồng vay tài sản:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp; phía bị đơn cũng thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật

Tố tụng dân sự, đủ cơ sở để kết luận: Bà Đoàn Thị P có cho bà Nguyễn Thị Kim T1 vay tiền 02 lần như sau:

  • Lần 1: Cho vay số tiền 50.000.000 đồng, có lập giấy mượn tiền nhưng không ghi ngày tháng vay tiền;
  • Lần 2: Vào ngày 11/10/2023, cho vay số tiền 70.000.000 đồng, có lập giấy cho vay tiền đề ngày 11/10/2023.

Tổng số tiền vay của 02 lần là 120.000.000 đồng. Sau đó, bà T1 có vay thêm 15.000.000 đồng thành tổng số tiền vay là 135.000.000 đồng. Vào ngày 04/5/2024, bà P có nói với bà T1 là sẽ không lấy tiền lãi nữa nhưng phía bà T1 lại nghe là cho số tiền lãi đã trả trừ vào nợ gốc nên bà T1 viết thành giấy mượn tiền đề ngày 04/5/2024 với nội dung là có trả 45.000.000 đồng và còn nợ lại 90.000.000 đồng. Thực tế ngày hôm đó, bà P không nhận tiền từ bà T1.

[2.2] Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

Đây là hợp đồng vay tài sản do các bên tự nguyện ký kết, khi ký kết các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ vào Điều 466 Bộ luật Dân sự thì bên vay phải trả cho bên cho vay tiền nợ vay và tiền lãi phát sinh.

[2.2.1] Về tiền nợ vay: Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ 105.000.000 đồng là thấp hơn số tiền vay 135.000.000 đồng, là có lợi cho bị đơn nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ vay 105.000.000 đồng (Một trăm lẻ năm triệu đồng) là có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.2.2] Về tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong bản án này.

[3] Về nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Á:

Khi vay tiền, không có sự tham gia của ông Trần Văn Á nhưng bị đơn khai đã sử dụng số tiền vay để trả nợ cho các khoản nợ mua đất làm ăn. Thấy rằng, bị đơn đã sử dụng số tiền vay vào mục đích chung của gia đình, nhằm kiếm lời để phục vụ cuộc sống gia đình.

Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ, chồng phải có nghĩa vụ liên đới trong trường hợp vợ hoặc chồng thực thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Á phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Do bà Nguyễn Thị Kim T1 và ông Trần Văn Á đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 159/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Linh nên cần chia phần mỗi người phải trả ½ số nợ cho bà Đoàn Thị P và ông Châu Văn H1.

[5] Về lãi suất chậm thi hành án: Do đại diện nguyên đơn không yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim T1, ông Trần Văn Á phải trả lãi cả về sau này nên Hội đồng xét xử không xem xét buộc bà T1, ông Á phải trả lãi chậm thi hành án.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Á phải chịu toàn bộ án phí DSST.

[7] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 235, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 và khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bà Nguyễn Thị Kim T1 và ông Trần Văn Á phải liên đới trả cho bà Đoàn Thị P và ông Châu Văn H1 số tiền 105.000.000 đồng (Một trăm lẻ năm triệu đồng). Chia phần: Bà Nguyễn Thị Kim T1, ông Trần Văn Á mỗi người phải trả số tiền 52.500.000 đồng (Năm mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

2/ Về án phí DSST:

Nguyễn Thị Kim T1, ông Trần Văn Á mỗi người phải chịu 2.625.000 đồng (Hai triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí DSST, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

Đoàn Thị P không phải chịu án phí DSST (Bà P đã được miễn nộp tạm ứng án phí do thuộc trường hợp hộ nghèo).

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4/ Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - CCTHADS huyện Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu HSVA, QĐ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 76/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Thị P "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Thị Kim T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger