Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TP. BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 76/2024/DS-ST

Ngày: 31/5/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Viết Kiên

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Tùng Mận

2. Bà Nguyễn Thị Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Vi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk không tham gia phiên tòa.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2024/TLST-DS ngày 29/1/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXX - ST ngày 25/4/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 64/QĐST-DS ngày 14/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H (vắng mặt)

Địa chỉ: D N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Người được uỷ quyền: Ông Lương Thanh V (có mặt)

Địa chỉ: C22 H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Bà Lê Thị T (có mặt)

Địa chỉ: 10/11/22 N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Lệ Phương H1 (có mặt)

Địa chỉ: 3 T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Trần Thị H và bà Lê Thị T có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước. Vào ngày 18/9/2023 bà T khó khăn trong công việc nên đã liên hệ bà H để mượn số tiền 140.000.000 đồng. Bà H đồng ý cho bà T mượn tiền, bà T đã viết giấy mượn số tiền trên và có chữ ký, chữ viết của bà T. Thời hạn trả tiền là 05 ngày từ ngày 18/9/20023 đến ngày 23/9/2023. Tuy nhiên đến ngày 23/9/2023, bà H liên lạc với bà T để lấy số tiền trên nhưng không nhận được câu trả lời từ bà T cũng như bà T tránh không gặp mặt bà H để giải quyết khoản nợ 140.000.000 đồng.

Vì vậy bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Lê Thị T phải thực hiện nghĩa vụ trả lại cho bà H số tiền 140.000.000 đồng và lãi suất chậm trả tính từ ngày 24/9/2023 theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn bà Lê Thị T trình bày:

Tôi và bà Trần Thị H trước đây là đồng nghiệp của nhau, tôi và bà Phan Thị Phương H2 là bạn bè của nhau. Việc bà H2 vay mượn của bà H như thế nào thì tôi không biết. Vào ngày 18/9/2023 thì bà H và bà H2 có đến trường học nơi tôi công tác có nhờ tôi bảo đảm khoản vay 140.000.000 đồng của bà H2 vay của bà H. Bà H2 có viết giấy mượn tiền nhờ tôi ký chỗ người mượn tiền và tôi có ký. Khoản tiền này là tiền của bà H2 vay của bà H không liên quan đến tôi. Tôi cũng không nhận bất cứ đồng tiền nào của bà H. Nay bà H khởi kiện yêu cầu tôi trả số tiền là 140.000.000 đồng thì tôi có ý kiến như sau: Khi nào bà H2 đưa tiền cho tôi thì tôi sẽ trả cho bà H.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Tôi và bà Trần Thị H có giao dịch vay mượn, ngày 18/8/2023 bà H có yêu cầu tôi nhờ bạn là Lê Thị T đồng nghiệp của bà H đứng ra bảo đảm cho tôi số nợ là 140.000.000 đồng, tôi có viết giấy mượn tiền và nhờ bà T ký chỗ người mượn tiền theo yêu cầu của bà H số tiền vay là 140.000.000 đồng, nay bà H khởi kiện đòi bà T số tiền 140.000.000 đồng thì tôi không đồng ý, tôi mới là người vay mượn của bà H nên tôi có trách nhiệm trả cho bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án “Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Tp Buôn Ma Thuột theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Vào ngày 18/9/2023 bà Trần Thị H có cho bà Lê Thị Tuyết m số tiền 140.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy tờ vay mượn, không thế chấp tài sản, thời hạn trả tiền là 05 ngày từ ngày 18/9/20023 đến ngày 23/9/2023. Tuy nhiên hết ngày 23/9/2023, bà H liên lạc với bà T để lấy số tiền trên nhưng bà T không trả do đó các bên xảy ra tranh chấp.

Xét quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật bảo vệ. Bị đơn đã không thực hiện việc trả nợ như cam kết là vi phạm hợp đồng. Việc nguyên đơn khởi kiện đòi số tiền là là 140.000.000 đồng tiền gốc và lãi suất là có cơ sở cần chấp nhận.

Xét lời trình bày của bà Lê Thị T cho rằng số tiền này bà vay giúp cho bà Phan Thị Phương H2, khi nào bà Phan Thị Phương H2 trả nợ bà thì bà trả cho bà H, nhưng bà H không đồng ý và không thừa nhận cho bà H2 vay, do đó bà T có quyền kiện đòi bà H2 số tiền trên bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

Xét về yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là phù hợp do vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 để tính lãi suất từ ngày 24/9/2023 cho đến nay là phù hợp.

Số tiền lãi cụ thể như sau: 140.000.000 đồng x 0,83%/tháng 8 tháng 07 ngày (kể từ ngày 24/9/2023 đến ngày 31/5/2024) = 9.568.000 đồng.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 465, 466, 467, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
  2. Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị H

    Buộc bà Lê Thị T hoàn trả cho bà Trần Thị H số tiền 149.568.000 đồng (trong đó 140.000.000 đồng tiền gốc và 9.568.000 đồng tiền lãi suất)

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

    Bà Lê Thị T được quyền khởi kiện bà Phan Thị Phương H2 bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

  3. Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu 7.478.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Bà Trần Thị H được miễn nộp tạm ứng án phí.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Chi cục THADS TP.BMT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Viết Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 76/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger