Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày 31 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mùi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Hoàng Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Kim Thi Giàu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 và ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Công H, sinh năm 1987 tại Vĩnh Long; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; nơi đăng ký tạm trú: ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 0/12; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1960 và bà Lê Thị Đ (đã chết); bị cáo có vợ là Trần Thị P (đã chết) và 01 người con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Ông Thái Thanh P1. Có mặt;
  • + Bà Nguyễn Thị Thanh T. Có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt;
  • + Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Huỳnh Thị N và bị cáo Lê Công H chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 6 năm 2023 tại phòng trọ số 9 - nhà trọ H2, địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Cuối tháng 11/2023, bà N và bị cáo xảy ra mâu thuẫn, bị cáo bỏ đi khỏi phòng trọ. Trong thời gian chung sống, N có mua 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung A04 màu đen cho H mượn sử dụng. Khoảng 11 giờ ngày 03/12/2023, ông Thái Thanh P1 chở bị cáo đến phòng trọ của bà Nguyễn Thị Thanh T tại phòng số 2, nhà T, địa chỉ: Ấp T, xã V để nhậu. Ông P1 gọi điện thoại cho bà N đến. Bà N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu vison biển số 66F1-971.28 đến phòng trọ bà T. Tại đây, ông P1, bà T, bà N và bị cáo nhậu đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, bị cáo H hỏi mượn xe mô tô của bà N cầm cố lấy tiền đóng phạt vi phạm giao thông để lấy xe của bị cáo ra, bà N không đồng ý cho mượn. Vì vậy, giữa bà N và bị cáo H xảy ra cự cãi với nhau, bà N yêu cầu bị cáo trả lại điện thoại di động hiệu Sam Sung A04 màu đen nhưng bị cáo không đồng ý. Khi bị cáo nghe điện thoại xong bỏ điện thoại xuống dưới nền nhà thì bà N đứng dậy lấy điện thoại bỏ vào trong túi áo khoác, bị cáo đứng dậy giật lại điện thoại nhưng không được nên đấm một cái vào ngực trái của bà N, bà N vẫn ôm điện thoại và túi xách. Bị cáo liền dùng tay giật túi xách trên người bà N rồi mở ra lấy một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66F1-971.28, 01 căn cước công dân mang tên Huỳnh Thị N, 01 chùm chìa khóa xe bỏ vào túi quần rồi chạy ra trước cửa phòng trọ ngồi lên xe mô tô biển số 66F1-971.28 nhằm mục đích lấy xe, bà N chạy ra đứng cản trước đầu xe mô tô, bị cáo xuống xe nhặt 01 cây gỗ vuông dài khoảng 1,52 mét giơ lên đe dọa đánh bà N để chiếm đoạt xe mô tô thì bà N chạy lại núp sau lưng bà T, bị cáo đánh một cái vào đầu xe mô tô làm khúc gỗ gãy ra làm đôi. Bị cáo H tiếp tục leo lên ngồi trên xe mô tô thì bà N đi lại phía sau nắm đuôi xe, bị cáo H liền xuống xe dùng hai tay bóp cổ bà N đẩy vào tường thì được ông P1 can ngăn kéo bị cáo ra, bị cáo liền điều khiển xe mô tô 66F1-971.28 chạy đi, bà N chạy ra trước đường Đ truy hô “Trời ơi, ăn cướp xe".

Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô, bị cáo H điều khiển xe đến tiệm C ở ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Thành T1 và bà Nguyễn Thị T2, cầm cố xe mô tô biển số 66F1-XXX.XX, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66F1-XXX.XX với số tiền 20.000.000 đồng rồi bỏ trốn đến xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thuê phòng trọ ở và đi làm thuê tại phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Ngày 05/12/2023, bà Huỳnh Thị N đến Công an xã V trình báo hành vi cướp tài sản của Lê Công H. Qúa trình xác minh Công an xã V đến tiệm C thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 66F1-971.28; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66F1-971.28 tên Huỳnh Thị N, 01 (một) giấy dịch vụ cầm đồ Thành Thắng, thu giữ tại hiện trường 01 (một) khúc gỗ vuông dài 1,52 mét. Ngày 19/2/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P bắt được Lê Công H theo Quyết định truy nã số 240/QĐTN/HS ngày 14/02/2024 tại Công an phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Lê Công H phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Công H từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) thanh gỗ có 04 cạnh kích thước dài 1,52m, bề rộng 6,2cm, bề dày 2,3cm, có 01 đầu hình chữ nhật, 01 đầu bị gãy tạo thành các cạnh nhọn; lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) tờ giấy dịch vụ cầm đồ ở tiệm C.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Công H phải bồi thường cho ông Nguyễn Thành T1 và bà Nguyễn Thị T2 số tiền 20.000.000 đồng.

Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng ý với tội danh, mức hình phạt, không áp dụng tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm dân sự mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Trong lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Người làm chứng bà Nguyễn Thị Thanh T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành T1, bà Nguyễn Thị T2 có đơn xin vắng mặt theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Công H khai nhận ngày 03/12/2023, tại phòng trọ số B, nhà trọ T3, thuộc ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương bị cáo và bị hại xảy ra mâu thuẫn do bị hại lấy chiếc điện thoại trước đó bị hại cho bị cáo mượn dẫn đến giữa bị hại và bị cáo giằng co qua lại, sau đó bị cáo chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 66F1-XXX.XX của bị hại Huỳnh Thị N. Bị cáo không thừa nhận hành vi bóp cổ, hành vi dùng cây đe dọa đánh bị hại để chiếm đoạt xe. Bị cáo cho rằng cơ quan điều tra đưa lời khai cho bị cáo ký, lăn dấu vân tay nhưng bị cáo thừa nhận bị cáo có ký và lăn tay, bị cáo không bị ép cung, nhục hình, không bị bị mớm cung. Khi được Công an huyện P tống đạt kết luận điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tống đạt cáo trạng bị cáo không có ý kiến, tại phiên tòa bị cáo thống nhất với kết luận điều tra, thống nhất với cáo trạng, không khiếu nại hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.

HĐXX xét thấy, lời khai của người làm chứng, người bị hại tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại biên bản hỏi cung bị can, biên bản khám nghiệm hiện trường, giấy chứng nhận thương tích của bị hại, vật chứng thu thập được tại hiện trường chứng minh bị cáo có thực hiện hành vi bóp cổ, dùng cây đe dọa đánh bị hại để chiếm đoạt xe mô tô của bị hại. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Công H là người thực hiện hành vi “Cướp tài sản” của bị hại bà Huỳnh Thị N, đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong khu vực và gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công bị hại để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, cáo trạng số 59/CT-VKSPG ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo các hành vi thực hiện để chiếm đoạt xe của bị hại. Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải. Do đó, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Với phân tích trên, HĐXX xét thấy: Bị cáo cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại đến cùng dù bị hại là người đã từng chung sống như vợ chồng với bị cáo. Do đó, cần xử lý nghiêm, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Khi lượng hình, HĐXX sẽ cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xét xử bị cáo mức án phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị T2 là người được ủy quyền toàn quyền đối với tiệm C. Bà T2 và ông Nguyễn Thành T1 là vợ chồng, cùng yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại là 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về biện pháp tư pháp:

  • - 01 (một) thanh gỗ có 04 cạnh kích thước dài 1,52m, bề rộng 6,2cm, bề dày 2,3cm, có 01 đầu hình chữ nhật, 01 đầu bị gãy tạo thành các cạnh nhọn là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên HĐXX quyết định tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) tờ giấy dịch vụ cầm đồ ở tiệm C. Xét thấy, đây là tài liệu, chứng cứ thể hiện hành vi phạm tội của bị cáo nên lưu cùng hồ sơ vụ án.

[8] Đối với phần hư hỏng tại phía đầu xe do bị cáo H dùng thanh gỗ đập vào, theo Kết luận định giá tài sản số 08/KL-ĐGTS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P kết luận giá trị thiệt hại là 700.000 đồng. Xét, bị cáo Lê Công H không có tiền án, tiền sự về tội Hủy hoại tài sản hoặc Cố ý làm hư hỏng tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không xử lý. Bị hại đã nhận lại tài sản là xe mô tô, giấy đăng ký xe mô tô, không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Đối với hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo H gây ra cho bà N trong quá trình thực hiện hành vi cướp tài sản. Ngày 26/3/2024, bị hại có đơn từ chối giám định thương tích và cùng ngày bị hại có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về hành vi cố ý gây thương tích. Quá trình làm việc bị hại không cung cấp hóa đơn điều trị vết thương nên Cơ quan điều tra công an huyện P không có cơ sở để xử phạt hành chính bị cáo về hành vi cố ý gây thương tích. Do đó, HĐXX không xem xét, xử lý.

Đối với ông Nguyễn Thành T1 và bà Nguyễn Thị T2 là người nhận là cầm cố xe mô tô biển số 66F1-XXX.XX. Qua làm việc với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, ông T1, bà T2 không biết xe mô tô trên do bị cáo chiếm đoạt của bị hại nên HĐXX không xem xét, xử lý.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo Lê Công H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 122, 123, 131 của Bộ luật Dân sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Công H phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Công H 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 16/02/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Công H phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Thành T1 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  4. Về biện pháp tư pháp:

    Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) thanh gỗ có 04 cạnh kích thước dài 1,52m, bề rộng 6,2cm, bề dày 2,3cm, có 01 đầu hình chữ nhật, 01 đầu bị gãy tạo thành các cạnh nhọn.

    (Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bình Dương)

    Lưu cùng hồ sơ vụ án: 01 (một) tờ giấy dịch vụ cầm đồ ở tiệm C.

  5. Về án phí:

    Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Công H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

    Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Công H phải nộp 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Phú Giáo;
  • - Công an huyện Phú Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mùi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp tài sản

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Công H phạm tội cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger