Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HS - ST

Ngày: 29 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Huệ và ông Nguyễn Văn Thân.

Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn D (Tên gọi khác: Zìn) - Sinh ngày 01/4/1995, tại thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: TDP T, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Sầm A P (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1976, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, vợ, con: Chưa có.

- Tiền sự: Không có.

- Tiền án: Có 02 tiền án:

  • + Tại Bản án số 47/2015/HS-ST ngày 28/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên (nay là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên xử phạt 42 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/7/2018, ngày 16/01/2023 được miễn số tiền truy thu.
  • + Tại Bản án số 81/2019/HS-ST ngày 20/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên (nay là thành phố P) phạt 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2022.

- Nhân thân:

  • + Tại Quyết định số 11360/QĐ-UBND ngày 30/9/2011 của Chủ tịch UBND huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 01/9/2013.
  • + Ngày 28/6/2023, bị cơ quan CSĐT Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên khởi tố bị can về tội: Công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Có mặt tại phiên tòa).

*. Bị hại: Di tích Đền M, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đặng Phương H - Sinh năm: 1981, nơi cư trú: TDP Mới, phường P, thành phố S. Chức vụ: Trưởng Ban di tích lịch sử Đền M.

(Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

*. Ngưởi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Phạm Trọng T1 - Sinh năm: 1983;

Nơi cư trú: TDP H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Anh Trần Việt C - Sinh năm: 1979;

Nơi cư trú: Tổ F, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

*. Người làm chứng:

- Bà Trương Phương T2 - Sinh năm 1970;

Nơi cư trú: TDP B, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

- Anh Ngô Xuân H1 - Sinh năm 1988;

Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn D (tên gọi khác Z) là người nghiện ma túy, do không có tiền tiêu xài nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 12/7/2023 thực hiện ý định trên, D đi bộ từ nhà ở Tổ dân phố (TDP) Thành Lập, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đến Đền M thuộc TDP A, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, trước khi đi D mang theo 01 chiếc túi màu đen, có dòng chữ “adidas” màu trắng, khi đến khu vực Đền M quan sát thấy các cửa đều khóa nên D đi ra đường dân sinh bên cạnh thì thấy có 03 lỗ thông gió, D trèo lên tường rào dùng tay đẩy vào 01 quạt thông gió khiến quạt thông gió đó bị rơi vào bên trong giam thờ “Cung cấm”. Sau đó, D lấy 01 thùng đựng rác bằng nhựa ở gần đó mang về kê bên ngoài tường rào nhưng vẫn không đủ độ cao để vào được bên trong nên D quay vào sân chính trong Đ lấy 01 chiếc ghế nhựa ra đặt lên nắp thùng rác để trèo vào và chui vào trong gian thờ “Cung cấm” qua lỗ thông gió (lỗ thông gió kích thước 31,5x30,5x26cm). Sau khi vào “Cung cấm” D mở 02 hòm công đức không khóa đặt ở nền nhà gần ban thờ chính lấy toàn bộ số tiền bên trong, sau đó Dũng tiếp tục lấy toàn bộ tiền lễ trên ban thờ chính. Sau khi lấy được tiền D trèo lên ban thờ chui qua lỗ thông gió ra ngoài rồi đi bộ đến ngã ba Phố C gọi điện đến tổng đài hãng T3 đến đón, khoảng 20 phút sau thì anh Ngô Xuân H1 là lái xe taxi đến đón D đi. Khi ngồi trên xe, D bỏ tiền ra đếm được tổng số tiền VNĐ là 2.460.000 đồng và (02 tờ 2 Đô-la Mỹ và 01 tờ 5 Đô-la Mỹ) đến khu vực dốc Q thuộc phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì D xuống xe. Sau khi trộm cắp được tiền D trả tiền xe taxi hết 250.000 đồng; mua ma túy sử dụng hết 650.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 13/7/2023, D đi đến khu vực chợ B, thành phố P vào cửa hàng vàng – bạc của Trần Việt C đổi 09 Đô-la Mỹ được 200.000 đồng tiền Ngân hàng N. Khoảng 10 giờ cùng ngày D đi đến ngã ba Phố C, thành phố S vào cửa hàng sửa chữa điện thoại đi động T của anh Phạm Trọng T1 chuộc 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K, màu xanh hết 1.100.000 đồng mà D đã cầm cố trước đó. Đến ngày 15/7/2023, D tiếp tục đến cửa hàng chữa điện thoại đi động T bán chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A17K được 1.100.000 đồng. Sau khi có được số tiền trên D đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản ông Đặng Phương H - Phó Chủ tịch UBND phường P - Trưởng ban M đã có đơn trình báo đến Công an phường P, thành phố S đề nghị xem xét xử lý theo quy định pháp luật. Ngày 19/7/2023 Công an phường P chuyển giao Hồ sơ vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố S giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S thu giữ: 01 phần lồng kính kích thước (26x51x30,5)cm, được niêm phong vào bì ký hiệu M; thu giữ dữ liệu camera giám sát tại gian “Cung cấm” và cổng Đền M, được sao lưu vào đĩa DVD, niêm phong vào bì ký hiệu A.

Ngày 20/7/2023 anh Trần Việt C giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 5 đô la (5USD) có số seri MK70142720D và 2 tờ tiền mệnh giá 2 đô la (2USD) có số seri B29162541A, B29162543A. Cùng ngày Nguyễn Văn D tự nguyện giao nộp 01 chiếc túi trống, màu đen, có dòng chữ “adidas” màu trắng; 01 điện thoại di động Oppo A17K, màu xanh, đã qua sử dụng.

Tại kết luận số 1003/KL-KTHS ngày 11/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 02 tờ tiền mệnh giá 2 đô la (2USD) có số seri B29162541A, B29162543A là tiền thật (Mỹ); 01 tờ tiền mệnh giá 5 đô la (5USD) có số seri MK70142720D là tiền thật (Mỹ).

Tại kết luận số 1056/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Trên mẫu cần giám định (Ký hiệu M) phát hiện được 07 dấu vết đường vân được ký hiệu lần lượt từ DV1 đến DV7, dấu vết đường vân tay phát hiện được có đặc điểm chung, đặc điểm riêng bền vững đủ yếu tố giám định; 07 dấu vết đường vân tay phát hiện được trên mẫu cần giám định (Ký hiệu M), có 03 dấu vết đường vân tay được ký hiệu là DV1, DV2, DV3 với dấu vân tay ngón trỏ phải, ngón giữa phải và ngón nhẫn phải in trên chỉ bản đứng tên Nguyễn Văn D (Ký hiệu S) là do cùng một người để lại.

Ngày 29/9/2023 Cơ quan điều tra Công an thành phố S tiến hành truy cập vào địa chỉ: https://www.sbv.gov.vn, xác định tỷ giá 01 USD = 23.772 VNĐ (Hai mươi ba nghìn bẩy trăm bẩy mươi hai Đồng Việt Nam). Căn cứ kết quả làm việc, xác định 09 (chín) Đô la Mỹ là 213.948 đồng (Hai trăm mười ba nghìn chín trăm bốn mươi tám đồng Việt Nam).

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Phương H - Trưởng ban M Mẫu Phố Cò yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn D phải bồi thường số tiền trộm cắp theo quy định. Anh Phạm Trọng T1 yêu cầu bị cáo D trả lại số tiền 1.100.000 đồng (tiền mua điện thoại với D). Anh Trần Việt C không có yêu cầu, đề nghị gì đối với bị cáo D.

Tại bản Cáo trạng số 76/ CT - VKS ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.

Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm g khoản 2 điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo D từ 42 – 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  • - Áp dụng Điều 47 của BLHS, buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 200.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo D phải có tránh nhiệm bồi thường cho Ban M số tiền 2.460.000 đồng và trả lại cho anh Phạm Trọng T1 số tiền 1.100.000 đồng;
  • - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi trống màu đen đã qua sử dụng, tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động Oppo A17K để đảm việc bảo việc Thi hành án cho bị cáo.
  • - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Văn D không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố là không oan, đúng người, đúng tội.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn khách quan, tự nguyện nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, vì đã phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:

Bị cáo Nguyễn Văn D là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, do không có tiền tiêu sài và mua ma túy nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định trên, khoảng 00 giờ 00 phút ngày 12/7/2023, bị cáo đi bộ từ nhà đến Đền M thuộc TDP A, phường P, khi vào được bên trong Đ tại gian thờ “Cung cấm” của Đền bị cáo D đã có hành vi trộm cắp số tiền 2.460.000 đồng tiền Ngân hàng N và 09 (chín) Đô la Mỹ trị giá là 213.948 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo D trộm cắp của Đền M là 2.673.948 đồng (Hai triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn chín trăm bốn mươi tám đồng).

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn D là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên buộc phải nhận thức và biết được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Trộm cắp tài sản”, bản thân bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là: “Tái phạm nguy hiểm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 173 BLHS. Tội trộm cắp tài sản.

  1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

g) Tái phạm nguy hiểm.

[3] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là nghiêm trọng, đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được Pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định về an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xét xử nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Xét nhân thân, thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã bị xử phạt tù về nhiều hành vi khác nhau, bị áp dụng biện pháp xử lý hảnh chính đưa vào trường G, hiện bị cáo còn đang bị cơ quan CSĐT Công an thành phố P khởi tố bị can về hành vi: Công nhiên chiếm đoạt tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu và coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cho bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy cũng như cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền...Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]Về Đô la Mỹ bị cáo trộm cắp được bán cho anh Trần Việt C được số tiền là 200.000 đồng, xét thấy đây là khoản tiền thu lợi bất chính cần truy thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của BLHS.

[6]Về thiệt hại và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã có hành vi trộm cắp số tiền 2.460.000 đồng và 09 Đôla Mỹ của Di tích lịch sử Đền M. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu hồi được 09 Đ Mỹ trả lại cho Ban M, đối với số tiền 2.460.000 đồng không thu hồi được và cho đến nay bị cáo cũng chưa bồi thường số tiền trên cho Ban M. Đại diện hợp pháp của Ban M vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền trên. Xét yêu cầu này của đại diện hợp pháp của Ban M là có căn cứ, phù hợp với quy định khoản 1 Điều 48 của BLHS và các Điều 584, 589 của BLDS cần chấp nhận và buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải có trách nhiệm bồi thường cho Ban M Mẫu số tiền là 2.460.000 đồng.

- Đối với yêu cầu của anh Phạm Trọng T1, xét thấy bị cáo đã dùng số tiền do phạm tội mà có để mua bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17K đối với anh Phạm Trọng T1. Sau khi vụ, việc bị phát hiện anh T1 đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại này cho cơ quan điều tra để xử lý theo thẩm quyền. Nay anh T1 yêu cầu bị cáo phải trả lại cho anh số tiền mà bị cáo bán chiếc điện thoại trên cho anh là 1.100.000 đồng là có căn cứ cần chấp nhận và buộc bị cáo D phải trra lại cho anh T1 số yiền nêu trên.

- Đối với 09 Đôla Mỹ, sau khi vụ việc bị phát hiện anh Trần Việt C đã tự nguyện giao nộp lại cho cơ quan điều tra để trả lại cho chủ sở hữu, nay anh C không yêu cầu bị cáo trả lại giá trị 09 Đôla nêu trên, nên Hội đồng xét xử cũng không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án như sau:

- Đối với 01 chiếc túi trống, màu đen đã qua sử dụng, xét thấy đây là tài sản không có giá trị, tại phiên tòa bị cáo cũng không yêu cầu được nhận lại chiếc túi này, nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

- Đối với chiếc điện thoại Oppo A17K, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính đối với bị cáo, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng vụ án ... là phù hợp với các quy định của Pháp luật cần được chấp nhận.

[8] Trong vụ án này, có anh Ngô Xuân H1 là lái xe taxi được bị cáo D trả số tiền 250.000 đồng, anh Trần Việt C là người mua lại 09 đô-la (Mỹ) của bị cáo D. Quá trình điều tra xác định anh H1 và anh C không biết số tiền trên là do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định pháp luật

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn Luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 47, 48, điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D;
  • - Các Điều 357, 468, 584, 586 và Điều 589 của BLDS;
  • - Điều 106, Điều 136 và Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D (Tên gọi khác là Z) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án theo bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 173 của BLHS.

4. Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải truy nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.

5. Về bồi thường thiệt hại:

  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải có trách nhiệm bồi thường cho Ban M số tiền 2.460.000 đồng (Hai triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) và trả lại cho anh Phạm Trọng T1 số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).
  • Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của BLDS, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

6.Về xử lý vật chứng vụ án như sau:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi trống màu đen có chữ “adias” màu trắng, đã qua sử dụng.
  • - Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17K, màu xanh đã qua sử dụng (Được niêm phong trong bì ký hiệu D) để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo.
  • (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên).

7. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST nộp vào ngân sách Nhà nước.

8.Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

  • - Bị hại (Người đại diện hợp pháp Ban M) có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Anh Phạm Trọng T1 và anh Trần Việt C) có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND, VKSND tỉnh Thái nguyên;
  • - VKSND, THADS TP. Sông Công;
  • - Công an TP. Sông Công;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người CQLNVLQ đến vụ án;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Toản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2023/HS - ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 76/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: uyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm g khoản 2 điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo D từ 42 – 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. - Áp dụng Điều 47 của BLHS, buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 200.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger