|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày 29 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Đức và ông Trần Đức Sao.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Lập - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Dương Văn Q (tên gọi khác: Không), sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Dương Văn C và bà Dương Thị P. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ, con: Không. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Anh Đỗ Hữu T, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Anh Nguyễn Đức G, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 02/03/2024, Dương Văn Q điều khiển xe mô tô BKS 89B2-166.83 đi trên đường A hướng từ đường L đến đường T. Quyết có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 09/5/2012. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường A và đường trục bắc khu đô thị Đ thuộc phường A, thành phố H thì va chạm với xe mô tô BKS 17B2 -568.98 do anh Đỗ Hữu T, sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình điều khiển chở theo sau là anh Nguyễn Đức G, sinh năm 1993, trú tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình đi trên đường trục bắc khu đô thị Đ hướng từ phường A đến xã T. Hậu quả: Dương Văn Q, anh Đỗ Hữu T, anh Nguyễn Đức G bị đa chấn thương, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H, hai phương tiện bị hư hỏng.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô BKS 89B2-166.83; 01 xe mô tô BKS 17B2 - 568.98 chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên. 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 89B2 -166.83 chủ xe là Dương Văn Q; 01 Giấy phép lái xe AU865910 hạng A1 cấp cho Dương Văn Q; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 17B2-568.98 chủ xe là Đỗ Hữu T; 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng A1 cấp cho anh Đỗ Hữu T, được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Bệnh án ngoại khoa số 12008937 của Bệnh viện đa khoa tỉnh H ghi nhận Dương Văn Q có trị số Ethanol dưới ngưỡng.
Bệnh án ngoại khoa số 21060455 của Bệnh viện đa khoa tỉnh H ghi nhận anh Đỗ Hữu T có trị số Ethanol dưới ngưỡng.
Kết luận định giá tài sản số 22 ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H kết luận phần hư hỏng tài sản đối với xe mô tô BKS 17B2-568.98 là 4.115.000 đồng, đối với xe mô tô BKS 89B2-166.83 là 2.386.000 đồng.
Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 54/2024/KLTTCT-TTP&GĐYK ngày 16/4/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H đối với anh Đỗ Hữu T, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh T tại thời điểm giám định là 26%. Cơ chế hình thành thương tích do dạng va đập với vật cứng hoặc nền cứng gây nên
Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 74/2024/KLTTCT-TTP&GĐYK ngày 30/5/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H đối với anh Nguyễn Đức G, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh G tại thời điểm giám định là 66%. Cơ chế hình thành thương tích do dạng va đập và chà sát với vật cứng hoặc nền cứng gây nên.
Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 71/2024/KLTTCT-TTP&GĐYK ngày 17/5/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H đối với Dương Văn Q, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Q tại thời điểm giám định là 28%. Cơ chế hình thành thương tích do dạng va đập và chà sát với vật cứng hoặc nền cứng gây nên.
Trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, Dương Văn Q tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Đức G số tiền 70 triệu đồng, bồi thường cho anh Đỗ Hữu T số tiền 30 triệu đồng. Ngày 31/7/2024 anh G và anh T đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu phải bồi thường thêm khoản chi phí nào khác, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Q.
Quá trình điều tra Dương Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 77/CT-VKSTPHY ngày 11 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo Dương Văn Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, để bị cáo có cơ hội phục hồi sức khỏe.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên trình bày luận tội: Giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố bị cáo Dương Văn Q. Đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố Dương Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Dương Văn Q từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Dương Văn Q 01 xe mô tô BKS 892-166.83 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép lái xe. Trả lại anh Đỗ Hữu T 01 xe mô tô BKS 17B2-568.98 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép lái xe. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên Công an thành phố H; Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại. Kết luận giám định, Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được cùng toàn bộ những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 08 giờ ngày 02/3/2024, tại ngã tư giao nhau đường A và đường trục bắc khu đô thị Đ thuộc phường A, thành phố H, Dương Văn Q điều khiển xe mô tô BKS 89B2-166.83 không nhường đường cho xe đến từ bên phải và giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 17B2-568.98 do anh Đỗ Hữu T điều khiển chở theo sau anh Nguyễn Đức G. Hậu quả làm anh T bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 26%, anh G bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 66%, xe mô tô BKS 17B2-568.98 bị hư hỏng, thiệt hại 4.115.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ; khoản 3, khoản 5 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 vận tải. Chính vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không bị oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Gây tâm lý hoang mang lo lắng cho mọi người khi tham gia giao thông. Khi lái xe bị cáo đã không tuân thủ các quy định của pháp luật về an toàn giao thông phải nhường đường và giảm tốc độ một cách an toàn. Chính vì vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bản thân bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại. Các bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, đây là lần đầu tiên phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội do lỗi vô ý. Sau khi xảy ra va chạm, bản thân bị cáo cũng bị ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì vậy, không cần thiết phải bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tại phiên tòa, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện tính khoan hồng nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không phải là hành nghề lái xe cho cơ quan, tổ chức, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Q đã bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Đức G số tiền 70.000.000 đồng, bồi thường cho anh Đỗ H số tiền 30.000.000 đồng. Anh T, anh G đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường thêm chi phí nào khác đối với bị cáo về trách nhiệm dân sự. Vì vậy HĐXX không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô BKS 89B2-166.83, giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép lái xe là tài sản hợp pháp của bị cáo Q nên trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 17B2-568.98 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép lái xe hạng A1 là tài sản hợp pháp của anh Đỗ Hữu T nên trả lại cho anh T.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[2] Xử phạt: Bị cáo Dương Văn Q 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Dương Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
[3] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô BKS 89B2-166.83, nhãn hiệu Honda màu sơn đen, vàng đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 89 022955 và 01 giấy phép lái xe số AU 865910 do Sở G cấp ngày 09/5/2012 mang tên Dương Văn Q.
Trả lại cho anh Đỗ Hữu T 01 xe mô tô BKS 17B2-568.98, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 059441 và 01 giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 31/10/2016 mang tên Đỗ Hữu T.
(Vật chứng trên có đặc điểm, số lượng theo Quyết định chuyển vật chứng số 66 và Bản thống kê vật chứng, cùng ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên).
[4] Về án phí: Bị cáo Dương Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Dương Văn Q được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Kim Anh |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 29/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Q vi phạm giao thông
