Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THÀNH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày 29/08/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hà.

Ông Thái Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nhật Thanh - Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:

Bà Lại Thị Hiền - chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Thị P, tên gọi khác: không; sinh ngày 05 tháng 11 năm 1969 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Y, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn V (đã chết) và bà Trần Thị H (đã chết); có chồng là Nguyễn Trọng D (đã ly hôn) và 01 con.

Tiền án; tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2024 đến nay. ( có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Lê Thị T, sinh năm 1985 ( có mặt).

Địa chỉ: Xóm B, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An.

2/ Chị Vi Thị T1, sinh năm 1983 ( có mặt).

Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An.

Người liên quan:

1/ Anh Luyện Hồng H1, sinh năm 1986 ( vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm X, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

2/ Anh Thái Duy T2, sinh năm 2003 ( vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm B, xã X, huyện Y, Nghệ An.

3/ Anh Nguyễn Trọng D1, sinh năm 2005 ( vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm V, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Luyện Hồng H1, sinh năm 1986, trú tại xóm X, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An có 01 ngôi nhà cấp 4, có 06 phòng ngủ được đánh số thứ tự gồm: 01, 02, 03, 04, 05, 06 tại xóm Y, xã P, huyện Y. Do thường xuyên phải đi làm ăn xa và không có nhu cầu sử dụng nên ngày 01/3/2024 anh L Hồng H1 đã ký hợp đồng cho Phan Thị P thuê lại nhà để ở. Khoảng cuối tháng 3 năm 2024, Lô Thị T3, sinh năm 1985, trú tại Bản V, xã Y, huyện T và Vi Thị T1, sinh năm 1983, trú tại xóm B, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An đã lần lượt đến nhà Phan Thị P thuê, gặp P để xin ở lại làm việc mục đích là để bán dâm thì được Phan Thị P đồng ý. Phan Thị P, Lô Thị T3 và Vi Thị T1 thống nhất Vi Thị T1 sẽ sinh hoạt và bán dâm tại phòng ngủ số 01, Lô Thị T3 sẽ sinh hoạt và bán dâm tại phòng ngủ số 04. T1 và T3 tự chuẩn bị bao cao su để sử dụng trong quá trình mua bán dâm, thống nhất giá mỗi lần bán dâm là 200.000 đồng, Phan Thị P sẽ lấy 100.000 đồng, còn 100.000 đồng thì T1 và T3 được nhận. Đối với số tiền khách mua dâm trả thì T3 và T1 sẽ trực tiếp lấy tiền từ khách mua dâm (có thể lấy trước khi bán dâm hoặc sau khi bán dâm) và đưa lại cho P như thỏa thuận. Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 21/5/2024, khi Phan Thị P cùng T3 và T1 đang nấu ăn trong phòng nơi P ở và sinh hoạt thì có Thái Duy T2, sinh

năm 2003 trú tại xóm B, xã X, huyện Y và Nguyễn Trọng D1, sinh năm 2005, trú tại xóm V, xã K, huyện Y rủ nhau đến mua dâm. Thái Duy T2 là người đứng ra giao dịch. T2 hỏi P "có ai đi không", nghĩa là T2 hỏi P ở đây có gái bán dâm không thì Phan Thị P trả lời "có hai em đây" rồi P nói với Lô Thị T3 và Vi Thị T1 "dẫn khách vô phòng đi" thì T3 và T1 đồng ý. Vi Thị T1 dẫn Thái Duy T2 vào phòng ngủ số 01 còn Lô Thị T3 dẫn Nguyễn Trọng D1 đi vào phòng ngủ số 04 của căn nhà mà P thuê để thực hiện hành vi bán dâm. Sau khi T1 và T3 dẫn khách vào phòng để bán dâm thì Phan Thị P đi ra cửa sắt thứ hai (hướng từ bên ngoài vào trong căn nhà) sử dụng 01 (một) ống khóa nhãn hiệu "Việt Tiệp" và 01 (một) chìa khóa nhãn hiệu Việt Tiệp khóa cửa sắt lại với mục đích không cho ai vào khu vực mà T3 và T1 đang bán dâm. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi các đối tượng Vi Thị T1, Thái Duy T2, Lô Thị T3, Nguyễn Trọng D1 đang thực hiện hành vi mua bán dâm (quan hệ tình dục) thì bị tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra và phát hiện tại phòng ngủ số 01 Vi Thị T1 và Thái Duy T2 đang thực hiện hành vi (quan hệ tình dục) mua bán dâm; tại phòng ngủ số D Lô T và Nguyễn Trọng D1 đang thực hiện hành vi (quan hệ tình dục) mua bán dâm.

* Về thu giữ vật chứng:

Quá trình kiểm tra, tố công tác Công an huyện Y đã thu giữ:

- Trên giường của phòng ngủ số 01 gồm: 01 (một) bao cao su màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao cao su nhãn hiệu "HA" đã qua sử dụng; 04 (bốn) bao cao su nhãn hiệu "HA", chưa qua sử dụng.

- Trên giường của phòng ngủ số 4 gồm: 01 (một) bao cao su màu trắng, đã qua sử dụng, 01 (một) vỏ bao cao su nhãn hiệu "HA" đã qua sử dụng; 05 (năm) bao cao su nhãn hiệu "HA", chưa qua sử dụng.

- Tại cửa sắt thứ hai (từ ngoài vào trong nhà) 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp và 01 (một) chìa khóa nhãn hiệu Việt Tiệp đều đã qua sử dụng.

- Thu 03 (ba) chiếc điện thoại gồm: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A30 màu xanh, số Imel 1: 354868102272848; số Imel 2: 354869102272846, bên trong gắn số thuê bao: 0363008292, điện thoại đã qua sử dụng (thu giữ của Phan Thị P); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo

Y15s màu xanh, số Imel 1: 867251055471883; số Imel 2: 867251055471891, bên trong gắn số thuê bao: 0973255519, điện thoại đã qua sử dụng (thu giữ của Lô Thị T3); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo ATTs màu xanh, số Imel 1: 866451065066936; 50 Imel 2; 866451065066928, bên trong gắn số thuê bao: 0394073282, điện thoại đã qua sử dụng (thu giữ của Vi Thị T1).

- Thu giữ của Vi Thị T1 số tiền 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền mua bán dâm.

Cáo trạng số: 85/VKS-HS ngày 13/8/2024 của VKSND huyện Yên Thành, Nghệ An truy tố bị cáo Phan Thị P về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Phan Thị P từ 12 tháng đến 15 tù về tội “ Chứa mại dâm”.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su màu trắng, đã qua sử dụng; 02 vỏ bao cao su nhãn hiệu "HA" đã qua sử dụng; 09 bao cao su nhãn hiệu "HA", chưa qua sử dụng; 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp và 01 chìa khóa nhãn hiệu Việt Tiệp.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: số tiền 200.000 đồng tiền mua bán dâm.

Trả lại 03 điện thoại cho các chủ sở hữu gồm 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A30; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y15s màu xanh; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo ATTs màu xanh;

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Phan Thị P phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không tranh luận gì với Viện kiểm sát.

Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Phan Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có cơ sở kết luận:

Vào hồi 12 giờ 00 phút ngày 21/5/2024, tại nhà ở của anh Luyện Hồng H1 ở xóm Y, xã P, huyện Y do Phan Thị P1 thuê anh H1 để ở. Phan Thị P đã đồng ý cho Lô Thị T3, sinh năm 1985 và Vi Thị T1, sinh năm 1983 bán dâm cho 02 đối tượng là Thái Duy T2, sinh năm 2003 trú tại xóm B, xã X và Nguyễn Trọng D1, sinh năm 2005, trú tại xóm V, xã K, huyện Y với số tiền 400.000 đồng (trong đó Thái Duy T2 là người đứng ra giao dịch, T2 đã trả trước cho Vi Thị T1 số tiền mua dâm là 200.000 đồng). Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi các đối tượng Vi Thị T1 với Thái Duy T2 đang mua, bán dâm với nhau tại phòng ngủ số 01 và Lô Thị T3 với Nguyễn Trọng D1 đang mua bán dâm với nhau tại phòng ngủ số 04 thì bị tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra phát hiện sự việc.

Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện đạo đức, thích hưởng lợi bất chính. Hành vi trên đây của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, tác động xấu đến môi trường văn hóa, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong nhân dân. Tệ nạn mại dâm đã và đang gây nhiều hệ lụy cho xã hội, có nguy cơ lây lan các bệnh xã hội qua đường tình dục và các tệ nạn xã hội. Bị cáo

nhận thức rõ hành vi của mình vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện đến cùng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình thức phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Thị P trong quá trình điều tra, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo tuổi đã cao, là lao động tự do, thu nhập không ổn định, tài sản riêng không có nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Xét thấy các vật chứng 02 (hai) bao cao su màu trắng và 02 (hai) vỏ bao cao su nhãn hiệu "HA" đã qua sử dụng; 09 (chín) bao cao su nhãn hiệu "HA", chưa qua sử dụng; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp và 01 (một) chìa khóa nhãn hiệu Việt Tiệp không còn giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Xét thấy 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A30 của Phan Thị P; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y15s màu xanh của Lô Thị T3 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo ATTs màu xanh của Vi Thị T1 không phải là vật chứng nên trả lại cho các Chủ sở hữu.

Số tiền 200.000 đồng tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[6] Đối với hành vi mua bán dâm của Vi Thị T1, Thái Duy T2, Lô Thị T3,

Nguyễn Trọng D1, ngày 20/7/2024 Công an huyện Y đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng này theo quy định pháp luật.

Đối với anh Luyện Hồng H1 là chủ sở hữu ngôi nhà, do anh H1 đã cho Phan Thị P thuê với mục đích để ở, việc Phan Thị P sử dụng nhà đã thuê ở để chứa mại dâm thì anh H1 không biết nên anh H1 không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Phan Thị P 15 ( mười lăm ) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 05 năm 2024.

- Vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bao cao su màu trắng và 02 (hai) vỏ bao cao su nhãn hiệu "HA" đã qua sử dụng; 09 (chín) bao cao su nhãn hiệu "HA", chưa qua sử dụng; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp và 01 (một) chìa khóa nhãn hiệu Việt Tiệp.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính.

Trả lại tài sản:

-01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A30 màu xanh, số Imel 1: 354868102272848; số Imel 2: 354869102272846, bên trong gắn số thuê bao: 0363008292 (đã qua sử dụng) cho bị cáo Phan Thị P).

-01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y15s màu xanh, số Imel 1: 867251055471883; số Imel 2: 867251055471891, bên trong gắn số thuê bao: 0973255519 (đã qua sử dụng) cho chị Lô Thị T3.

-01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo ATTs màu xanh, số Imel 1: 866451065066936; 50 Imel 2; 866451065066928, bên trong gắn số thuê bao: 0394073282 (đã qua sử dụng) cho chị Vi Thị T1.

(Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý ngày 28/08/2024)

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Thị P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan điều tra cùng cấp;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - UBND xã nơi b/c cư trú;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu kết quả.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Xuân Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tội chứa mại dâm)

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Chứa mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị P phạm tội Chứa mại dâm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger