Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
Bản án số: 76/2024/HS-ST
Ngày: 29/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thanh Nga
  2. Bà Đinh Kim Hoàng

Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Lê Tuấn A (tên gọi khác: Tý Hon); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08/4/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 1 N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Dạy môn tennis; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1979 và bà Lê Thị Ánh T, sinh năm 1960; Vợ tên Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1979 và 01 con sinh năm 2017; Tiền án: Không có; Tiền sự: Năm 2021 bị Tòa án nhân dân Quận 1 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 12/12/2022; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1979;

Địa chỉ: 1 N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ ngày 19/3/2024, Nguyễn Lê Tuấn A điều khiển xe gắn máy loại Wave, màu đỏ, biển số: 51L4-5172 đi đến khu vực đường B, Quận A, tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây Nguyễn Lê Tuấn A gặp một thanh niên (không rõ lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Sau đó Nguyễn Lê Tuấn A nhận một ví da màu nâu, bên trong có một gói nylon chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, Tuấn A đem ma túy về nhà cất giữ. Khoảng 01 giờ ngày 20/3/2024, Nguyễn Lê Tuấn A lấy túi da màu nâu bên trong có ma túy để ở baga trước của xe gắn máy biển số 51L4-5172 đi sang Quận D, ăn uống. Đến khoảng 02 giờ 30 cùng ngày, khi Tuấn A đang ngồi trên xe tại trước nhà số: A T, Phường A, Quận D, để chờ bạn, thì bị Công an Q, phát hiện có biểu hiện nghi vấn, nên kiểm tra. Qua kiểm tra Công an phát hiện Nguyễn Lê Tuấn A đang cất giữ gói ma túy nêu trên, nên đã đưa về Công an Phường 10, Quận D, lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số: 3748/KL-KTHS ngày 27/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu trong một gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Lê Tuấn A và hình dấu Công an P, Quận D, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1825 gam

Ngày 21/3/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra khám xét nơi ở của Nguyễn Lê Tuấn A tại số: 1 N, phường Đ, Quận D, thu giữ một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá.

Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Lê Tuấn A ở khu vực B, Quận A, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, không xác minh được nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở để xử lý.

Vật chứng và vật hiện đang tạm giữ:

  • 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Lê Tuấn A và hình dấu Công an P, Quận D, bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • 01 ví da màu nâu Nguyễn Lê Tuấn A sử dụng để đựng ma túy.
  • 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy được niên phong.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, bên trong có sim số: [...], số Imel 1: 863539042910318, số Imel 2: 863539042910300 là tài sản cá nhân của Nguyễn Lê Anh T2 không liên quan đến vụ án.
  • 01 hộp giấy màu đỏ bên trong đựng nhiều gói nylon không chứa gì, Nguyễn Lê Tuấn A dùng để đựng thuốc chữa bệnh, không liên quan đến vụ án.
  • 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Lê Tuấn A là giấy tờ cá nhân của Nguyễn Lê Tuấn A, không liên quan đến vụ án.
  • 01 xe gắn máy loại Wave, màu đỏ, biển số: 51L4-5172, số khung: RNDDCHJND51*000139*, số máy: VDGZS152FMN-J*00000139*. Qua xác minh xe này do Nguyễn Thanh V (sinh năm: 1962, nơi cư trú: A N, Phường B, Quận H) đứng tên sở hữu. Nguyễn Thanh V tặng cho Nguyễn Ngọc T1 là vợ của Nguyễn Lê Tuấn A nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 19/3/2024 Nguyễn Lê Tuấn A tự lấy xe này đi mua ma túy, chị Nguyễn Ngọc T1 không biết việc Nguyễn Lê Tuấn A sử dụng xe này đi mua ma túy.

Tang vật nêu trên, Viện kiểm sát có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự Quận 4 chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 88/CT-VKSQ4 ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Lê Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Nguyễn Lê Tuấn A mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Lê Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Tại phiên tòa, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 20/3/2024, tại trước nhà số : A T, Phường A, Quận D, Công an Q, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Lê Tuấn A đang cất giữ một gói nylon, bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1825 gam, nhằm mục đích sử dụng, nên hành vi của Nguyễn Lê Tuấn A, đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đối với bị cáo Nguyễn Lê Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

  1. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Lê Tuấn A và hình dấu Công an P, Quận D, bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định; 01 ví da màu nâu Nguyễn Lê Tuấn A sử dụng để đựng ma túy; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy được niên phong; 01 hộp giấy màu đỏ bên trong đựng nhiều gói nylon không chứa gì, Nguyễn Lê Tuấn A dùng để đựng thuốc chữa bệnh, không có giá trị sử dụng.
    • Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, bên trong có sim số: [...], số Imel 1: 863539042910318, số Imel 2: 863539042910300; và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Lê Tuấn A là tài sản, giấy tờ cá nhân của Nguyễn Lê Anh T2 không liên quan đến vụ án.
    • 01 xe gắn máy loại Wave, màu đỏ, biển số: 51L4-5172, số khung: RNDDCHJND51*000139*, số máy: VDGZS152FMN-J*00000139*: Trả lại cho bà Nguyễn Ngọc T1.

    (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 91/2024 ngày 04/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 4)

  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Tuấn A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2024.

- Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Lê Tuấn A và hình dấu Công an P, Quận D, bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định; 01 ví da màu nâu Nguyễn Lê Tuấn A sử dụng để đựng ma túy; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy được niên phong; 01 hộp giấy màu đỏ bên trong đựng nhiều gói nylon không chứa gì, Nguyễn Lê Tuấn A dùng để đựng thuốc chữa bệnh, không có giá trị sử dụng.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, bên trong có sim số: [...], số Imel 1: 863539042910318, số Imel 2: 863539042910300; và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Lê Tuấn A là tài sản, giấy tờ cá nhân của Nguyễn Lê Anh T2 không liên quan đến vụ án.

+ 01 xe gắn máy loại Wave, màu đỏ, biển số: 51L4-5172, số khung: RNDDCHJND51*000139*, số máy: VDGZS152FMN-J*00000139*: Trả lại cho bà Nguyễn Ngọc T1.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 91/2024 ngày 04/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 4)

- Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Lê Tuấn A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • Sở Tư pháp TP.HCM;
  • Công an TP.HCM;
  • Viện kiểm sát nhân dân Quận 4;
  • Công an Quận 4;
  • Các bị cáo;
  • Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4;
  • Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử 01 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger