|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29 – 5 – 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Xuân Giao.
- Bà Trần Thị Liên.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Vũ – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 957/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17/11/2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Vũ Xuân V, sinh năm 1986 (Có mặt).
Địa chỉ: Số B, thôn N, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Bà Hứa Vũ T, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn D, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn, ông Vũ Xuân V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Hứa Vũ T đến với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 11/3/2020. Sau khi về chung sống thì vợ chồng sống tại nhà của tôi tại thôn N, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do hai vợ chồng không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên dẫn đến cãi nhau. Đến đầu năm 2021 thì bà T về nhà bố mẹ đẻ tại xã E, thành phố B sinh sống cho đến nay. Nguyện vọng của tôi là yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Hứa Vũ T.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng tôi có 01 con chung là Hứa Vũ Anh T1, sinh ngày 30/3/2021.
Từ khi cháu T1 được sinh ra cho đến nay thì cháu ở với mẹ cháu là Hứa Vũ T. Tôi chưa thăm con và chưa gặp con lần nào.
Nguyện vọng của tôi về con chung là hiện nay cháu Hứa Vũ Anh T1 còn nhỏ nên tôi có nguyện vọng giao cháu T1 cho vợ là bà Hứa Vũ T nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Hứa Vũ Anh T1 số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Hứa Vũ T nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông Vũ Xuân V. Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Xuân V được ly hôn với bà Hứa Vũ T. Về con chung: Giao cháu Hứa Vũ Anh T1, sinh ngày 30/3/2021 cho bà Hứa Vũ T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành.
Ông Vũ Xuân V có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ông Vũ Xuân Văn tự n cấp dưỡng nuôi cháu Hứa Vũ Anh T1 với số tiền 2.000.000đ/tháng cho đến khi cháu Hứa Vũ Anh T1 đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Vũ Xuân V yêu cầu ly hôn với bà Hứa Vũ T, địa chỉ cư trú tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Xuân V và bà Hứa Vũ T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 11/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Ông Vũ Xuân V và bà Hứa Vũ T chung sau khi về chung sống với nhau thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do hai vợ chồng không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên dẫn đến cãi nhau. Đến đầu năm 2021 thì bà T về nhà bố mẹ đẻ tại xã E, thành phố B sinh sống cho đến nay. Ông V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà T vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: Ông Vũ Xuân V và bà Hứa Vũ T có đăng ký kết hôn tại UBND xã E. Sau khi đăng ký kết hôn, ông V, bà T sinh sống tại Thôn D, xã E được một thời gian, ông Vũ Xuân V không ở thôn D, xã E nữa mà về địa chỉ tại huyện E, tỉnh Đắk Lắk sinh sống còn bà Hứa Vũ T sinh sống tại địa chỉ thôn D, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình chung sống, ông V và bà T có mâu thuẫn vợ chồng, sống với nhau được một thời gian ông V không có chung sống với bà T nữa.
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc ông Vũ Xuân V xét thấy không còn tình cảm với bà Hứa Vũ T, vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống, dẫn đến mâu thuẫn cuộc sống kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Vũ Xuân V, cho ông Vũ Xuân V được ly hôn với bà Hứa Vũ T.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông Vũ Xuân V và bà Hứa Vũ T có 01 con chung là Hứa Vũ Anh T1, sinh ngày 30/3/2021. Hiện nay, cháu T1 đang ở với bà T. Quá trình giải quyết vụ án ông V xác định từ khi bà T sinh con ra đến nay, ông V cũng chưa thăm và gặp con lần nào. Ông V có nguyện vọng được giao cháu T1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi được sinh ra cho đến nay thì cháu T1 được bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay. Vì vậy, cần tiếp tục giao cháu T1 cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Hứa Vũ Anh T1, sinh ngày 30/3/2021 cho bà Hứa Vũ T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành (18 tuổi).
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Vũ Xuân Văn tự n cấp dưỡng nuôi cháu Hứa Vũ Anh T1 số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi nên cần ghi nhận sự tự nguyện của ông V.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn ông Vũ Xuân V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật, bị đơn bà Hứa Vũ T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107; Điều 116; Điều 117; Điều 118 và Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ: Điểm a Khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Xuân V.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Xuân V được ly hôn với bà Hứa Vũ T.
- Về con chung:
Giao cháu Hứa Vũ Anh T1, sinh ngày 30/3/2021 cho bà Hứa Vũ T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
Ông Vũ Xuân V có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Vũ Xuân V có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Hứa Vũ Anh T1, sinh ngày 30/3/2021 số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Tiền cấp dưỡng được giao cho bà Hứa Vũ T.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về án phí: Ông Vũ Xuân V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ. Tổng số tiền án phí mà ông V phải nộp là 600.000 đồng. Được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/0004320 ngày 09/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột (Bà Hồ Thị Hồng L nộp thay). Ông Vũ Xuân V còn phải nộp số tiền 300.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
