Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29-05 - 2024

“V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Phiên tòa: Ông Diệp Chí Nguyện

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Lệ Hoa

Ông Hoàng Xuân Niêm

- Thư ký Phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Trong ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị R, sinh năm 1990; Có mặt.

Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau;

- Bị đơn: Anh Đoàn Thanh H, sinh năm 1988; Vắng mặt.

Địa chỉ cư trú: ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:

Về hôn nhân: Chị R trình bày, chị và anh H kết hôn với nhau trên tin thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T vào năm 2010. Qúa trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, về sau vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, hiện đã ly thân, vợ chồng không hạnh phúc nên chị R yêu cầu ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị R xác định có 02 con chung tên Đoàn Ánh D, sinh ngày 20/5/2011 và Đoàn Ánh D1, sinh ngày 16/01/2019. Hiện các con đang ở chung với chị R. Khi ly hôn chị R yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị R xác định không có.

Về nợ chung: Chị R xác định không có.

Đối với anh Đoàn Thanh H, Tòa án đã cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử, anh H biết được việc yêu cầu ly hôn của chị R, nhưng anh H vẫn vắng mặt không rõ lý do và cũng không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án về yêu cầu của chị R.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại Phiên toà các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị R về việc xin ly hôn với anh Đoàn Thanh H thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Anh H là bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tòa án đã cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập theo quy định cho các đương sự, nhưng anh H là bị đơn vắng mặt không rõ lý do đến lần thứ 2 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị R trình bày, chị và anh H kết hôn với nhau trên tin thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T vào năm 2010. Qúa trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, về sau vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, hiện đã ly thân, vợ chồng không hạnh phúc nên chị R yêu cầu ly hôn với anh H.

Đối với anh H, biết được yêu cầu xin ly hôn của chị R, nhưng anh H vắng mặt không rõ lý do và cũng không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án về yêu cầu của chị R, cho thấy anh H chưa quyết tâm để tìm giải pháp hàn gắn tình cảm của vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo yêu cầu của chị R khi phù hợp với quy định của pháp luật.

Nhận thấy, theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên, cụ thể là yêu cầu của chị R xin ly hôn với anh H. Chị R xác định trong quá trình sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cải vã nhau và đã ly thân, vợ chồng không còn hạnh phúc, trường hợp có sống chung cũng không được hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị R đối chiếu với quy định là phù hợp nên được chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị R xác định có 02 con chung tên Đoàn Ánh D, sinh ngày 20/5/2011 và Đoàn Ánh D1, sinh ngày 16/01/2019. Hiện các con đang ở chung với chị R. Khi ly hôn chị R yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, hiện tại chị R đang nuôi dưỡng các con có cuộc sống bình thường và có yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp với nguyện vọng của các con. Do đó, việc giao các cháu Ánh D, Ánh D1 cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng khi vợ chồng ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của chị R được chấp nhận.

Chị R là người trực tiếp nuôi con nhưng không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị R xác định không có.

[6] Về nợ chung: Chị R xác định không có.

2

[7] Về án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình chị R nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 1 Điều 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị R về việc xin ly hôn với anh Đoàn Thanh H.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Đoàn Ánh D, sinh ngày 20/5/2011 và Đoàn Ánh D1, sinh ngày 16/01/2019 (Hiện các con đang ở chung với chị R) cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng sau ly hôn.

Chị R là người trực tiếp nuôi con nhưng không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Anh H không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định của pháp luật không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị R xác định không có.

Về nợ chung: Chị R xác định không có.

Án phí dân sự sơ thẩm Hôn nhân và gia đình: Chị R nộp 300.000đ. Vào ngày 15/3/2024, chị R đã dự nộp số tiền 300.000đ theo biên lai số 0016058 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu sung quỹ nhà nước.

Chị R có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THA dân sự h. Thới Bình;
  • - UBND xã T, h. Thới Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;án văn.

3

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Diệp Chí Nguyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị R về việc xin ly hôn với anh Đoàn Thanh H.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger