Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LÁT

TỈNH THANH HOÁ


Bản án số: 76/2023/HS-ST

Ngày 27-12-2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Gia Văn Tính và ông Lương Văn Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Nam, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phạm Bá B, sinh năm 1993, tại xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hoá. Nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Bá D (đã chết) và bà Phạm Thị T, sinh năm 1972. Bị cáo có vợ là R (Đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • Ngày 10/10/2020, Phạm Bá B bị Công an huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 3.500.000 đồng về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
    • Ngày 28/02/2020, Phạm Bá B bị Tòa án nhân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Phạm Bá B chấp hành án xong hình phạt ngày 16/4/2020 và các quyết định khác trong bản án.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 19/7/2023 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Lát; có mặt tại phiên toà.

  2. Họ và tên: Thào A L, sinh năm 1992, tại xã T, huyện B, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A S (đã chết) và bà Lù Thị L, sinh năm 1945. Bị cáo có vợ là Giàng Thị C, sinh năm 1993 và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 19/7/2023 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Lát; có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Hà Văn Khôi – Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh số 1, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Thào A P, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hoá, vắng mặt.

  2. Ông Phạm Bá D, sinh năm 1966.

    Địa chỉ: Bản C, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hoá, vắng mặt.

    (Người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Bá D là chị Phạm Thị T, sinh năm 1992; địa chỉ: Bản C, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hoá, vắng mặt)

- Người chứng kiến:

  1. Anh Thào A S, sinh năm 1987.

    Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hoá, vắng mặt.

  2. Anh Cao Đăng L, sinh năm 1991.

    Địa chỉ: K4, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hoá, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 00 phút, ngày 10 tháng 7 năm 2023, tổ công tác Công an huyện Mường Lát phối hợp cùng Công an xã Trung Lý, huyện Mường Lát tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực bản Tà Cóm, xã Trung Lý, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe máy một mình hướng từ bản Tà Cóm, xã Trung Lý, huyện Mường Lát đi ra khu vực bến đò Huy Tùng có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu người đàn ông dừng xe máy lại để kiểm tra, lúc này người đàn ông thả từ tay phải xuống đất ngay vị trí dừng xe một gói nilon màu hồng, tổ công tác đã yêu cầu người đàn ông nhặt gói nilon lên để kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện bên trong gói nilon màu hồng có chứa các cục bột màu trắng ngà và 01 gói nhỏ nilon màu hồng bên trong có chứa các cục bột màu trắng ngà, người đàn ông khai nhận là heroine và tự khai tên là Phạm Bá B, sinh năm 1993, hiện trú tại bản C, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa B cùng tang vật về trụ sở Công an huyện Mường Lát để làm việc.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 10/7/2023, Phạm Bá B đang chơi ở nhà Phạm Bá D, sinh năm 1966 tại bản C, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa thì B đã sử dụng điện thoại số: 0987.280.xxx gọi điện cho Thào A L, số điện thoại là 0339.760.xxx và hỏi mua ma túy của L. Thào A L nói với B là không có ma túy để bán cho B, nếu B muốn mua thì đi đến bản T, xã T, huyện M rồi L sẽ đi tìm mua hộ ma túy cho, B đồng ý. Sau khi gọi điện thoại xong, B mượn xe máy biển kiểm soát 36H5 - 115.14 của Phạm Bá D rồi một mình điều khiển xe máy đến bản Tà Cóm, xã Trung Lý, huyện Mường Lát để tìm mua ma túy. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày 10/7/2023, Phạm Bá B đến đầu bản Tà Cóm, xã Trung Lý, huyện Mường Lát, tại đây B đã gặp L ở ngoài đường, khi gặp nhau B đưa cho L số tiền 1.000.000₫ (một triệu đồng) và dặn L là mua ma túy, loại heroine. Thào A L nhận tiền từ B đưa và điều khiển xe máy (L mượn của Thào A P, sinh năm 2001, trú tại bản T, xã T, huyện M) đi tìm mua hộ ma túy cho B, còn Phạm Bá B đứng tại đó để chờ. Thào A L đến khu vực suối Quặc, thuộc bản Tà Cóm, xã Trung Lý, huyện Mường Lát thì gặp một người đàn ông lạ mặt, đang đứng ở lề đường, L dừng xe lại và hỏi anh ta có ma túy bán không? Người đàn ông trên trả lời là có và đồng ý bán ma túy cho L. Thào A L đưa toàn bộ số tiền mà B đưa để mua ma túy, người đàn ông đó nhận tiền rồi bán heroine cho L. Thào A L quay lại đưa cho B toàn bộ số ma túy vừa mua được, bình nhận gói ma túy rồi mở ra để kiểm tra, sau đó B bẻ ra một cục heroine nhỏ rồi gói lại bằng mảnh nilon màu hồng và để chung vào các cục heroine và gói chung lại với nhau, đồng thời B cũng bẻ thêm một cục nhỏ heroine để cho Thào A L và cho thêm số tiền 40.000₫ để L đi đổ xăng (Số heroine mà B cho L, L đã sử dụng hết ngay tại đó). Sau đó, B cầm gói ma túy vừa mua được ở trên tay phải, điều khiển xe máy theo đường cũ để về nhà Phạm Bá D. Khi B điều khiển xe máy xuống gần đến bến đò Huy Tùng thì gặp tổ công tác Công an huyện Mường Lát đang làm nhiệm vụ, do lo sợ bị phát hiện gói ma túy đang cầm ở tay phải nên B đã thả gói ma túy xuống đất nhưng bị tổ công tác phát hiện, kiểm tra và bắt giữ.

Sáng ngày 11/7/2023, sau khi biết Phạm Bá B bị bắt và nhận thức được hành vi vi phạm của bản thân, Thào A L đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát để đầu thú và khai nhận hành vi đi mua hộ ma túy cho Phạm Bá B vào ngày 10/7/2023.

Tại Bản kết luận giám định số: 2677/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận vật chứng thu giữ như sau:

  • Các cục bột màu trắng niêm phong mặt trước ghi tang vật thu giữ của Phạm Bá Bình gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 3,308g (ba phẩy ba không tám gam). Loại Heroine.

Về vật chứng và xử lý vật chứng trong vụ án:

  • 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì công văn do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành. Mặt trước gói niêm phong ghi dòng chữ CA Mường Lát TC62 Ngày 12/7/2023. Mặt sau đã được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Lê Minh Tiến, Lưu Bình Nguyên, Bùi Thanh Duyệt và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa; 01 chiếc điện thoại được niêm phong bằng phong bì công văn Công an huyện Mường Lát phát hành. Mặt trước gói niêm phong ghi dòng chữ vật chứng thu giữ của Phạm Bá B. Mặt sau đã được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Lê Văn Thái, Phạm Bá B, Lường Thị Hằng và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát.

Vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát theo quy định của pháp luật.

  • 01 xe mô tô BKS: 36H5 - 115.14, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe mô trên là tài sản hợp pháp của ông Phạm Bá D, sinh năm 1966, trú tại bản C, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Ông Phạm Bá D đã ủy quyền cho con gái tên là Phạm Thị T, sinh năm 1992, trú tại bản C, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa để làm thủ tục xin và nhận lại chiếc xe mô tô nói trên. Xét thấy ông D không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát đã trả lại xe cho chị T theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Thào A L vào ngày 10/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L theo luật định.

Đối với người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 40 tuổi, người cao, béo, da trắng (theo lời khai của Thào A L) là người đã bán ma tuý cho L, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, nhưng chưa xác định được đối tượng nêu trên nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ thì xử lý trong vụ án khác.

Đối với Thào A P, theo lời khai của Thào A L là người đã cho L mượn xe mô tô và điện thoại để đi lại và liên lạc với Phạm Bá B hẹn mua ma túy vào ngày 10/7/2023. Quá trình điều tra Thào A P khai chỉ cho Lồng mượn xe máy, không cho mượn điện thoại. Việc, L sử dụng xe máy đi mua ma túy P hoàn toàn không biết và không có liên quan gì đến hành vi phạm tội của các bị cáo do vậy P không phải chịu trách nhiệm. Đối với lời khai của Thào A L về việc P cho Lồng mượn điện thoại có số thuê bao 0339.760.588 để liên lạc với Phạm Bá B, thì Thào A P không thừa nhận. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, nếu đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với số thuê bao 0987.280.532, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh là của Hà Văn T, sinh năm 1982, trú tại bản B, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và số thuê bao 0339.760.588 là của Đinh Văn N, sinh năm 1971, trú tại Xóm H, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Tuy nhiên, Hà Văn T và Đinh Văn N khai chưa từng đăng ký, sử dụng số điện thoại nêu trên, không biết ai sử dụng số thuê bao này, cũng không quen biết và liên lạc với Phạm Bá B và Thào A L trong vụ án. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, nếu đủ căn cứ thì xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 02/CT-VKS-ML ngày 05/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát đã truy tố bị cáo Phạm Bá B và Thào A Lồng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo; áp dụng thêm khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Thào A L. Tuyên bố bị cáo Phạm Bá B và Thào A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Phạm Bá B từ 36 đến 40 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ; xử phạt Thào A L từ 28 đến 32 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.

Về vật chứng và xử lý vật chứng:

  • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 (một) gói niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại thu giữ của Phạm Bá B.

Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá.

Đối với xe mô tô BKS: 36H5 - 115.14, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe mô trên là tài sản hợp pháp của ông Phạm Bá D, ông D không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát đã trả lại xe cho ông D theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra ông D không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên không đề nghị xem xét.

Người bào chữa trình bày quan điểm bào chữa cho các bị cáo: Đồng tình với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, các bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo B mức án từ 30 đến 36 tháng tù, xử phạt bị cáo L mức án từ 24 đến 28 tháng tù, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật để các bị cáo yên tâm cải tạo, sửa chữa lỗi lầm. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Các bị cáo thành khẩn nhận tội và đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được về chăm sóc con nhỏ, chung sống với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Bá B và bị cáo Thào A L thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào hồi 16 giờ ngày 10/7/2023, tại khu vực bến đò "Huy Tùng" thuộc bản Tà Cóm, xã Trung Lý, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa tổ công tác Công an huyện Mường Lát phối hợp cùng Công an xã Trung Lý, huyện Mường Lát bắt quả tang Phạm Bá B có hành vi ném xuống chân ngay chỗ dừng xe một gói nilon nhỏ màu hồng bên trong có chứa các cục bột màu trắng ngà và 01 gói nhỏ nilon màu hồng bên trong có chứa các cục bột màu trắng ngà, B khai nhận đây là ma tuý, loại Heroine B nhờ Thào A L mua hộ mang về để sử dụng.

Đến ngày 11/7/2023, Thào A L đã đến Cơ quan điều tra để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi đi mua ma túy cho Phạm Bá B vào ngày 10/7/2023.

Tại Bản kết luận giám định số: 2677/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận vật chứng thu giữ như sau: Các cục bột màu trắng niêm phong mặt trước ghi “Tang vật thu giữ của Phạm Bá B gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 3,308g (ba phẩy ba không tám gam). Loại Heroine."

Như vậy, hành vi của Phạm Bá B và Thào A L cùng nhau mua ma tuý để sử dụng với tổng khối lượng bị thu giữ là 3,308g (ba phẩy ba không tám gam) đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội.

[3]. Xét tính chất vụ án: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội. Các bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được các hành vi liên quan đến ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm do những tác hại xấu đến đời sống kinh tế, xã hội cũng như sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác; nhưng để thoả mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm hành vi phạm tội của các bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật Hình sự.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo trong vụ án.

Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò từ trước mà các bị cáo vừa là người thực hiện, giúp sức nhau để mua ma tuý với mục đích để sử dụng. Bị cáo Thào A L là người trực tiếp cầm tiền do bị cáo B đưa và đi mua ma tuý, bị cáo đã được B đưa ma tuý để sử dụng do đó các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma tuý thu giữ được là 3,308g Heroine, tuy nhiên cũng cần đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án để áp dụng mức hình phạt cho tương xứng nhằm bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật.

Đối với bị cáo Phạm Bá B, bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 28/02/2020, bị cáo đã bị Tòa án nhân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 06 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành án xong ngày 16/4/2020 và đã được xoá án tích; đến ngày 10/10/2020 bị cáo đã bị Công an huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, mặc dù bị cáo chưa thực hiện việc nộp phạt khoản tiền này, tuy nhiên sau khi nhận quyết định xử phạt, Cơ quan có thẩm quyền đã xác minh điều kiện thi hành của bị cáo và xác định bị cáo chưa nộp phạt do đi cai nghiện tập trung, điều kiện kinh tế khó khăn, sau đó mặc dù bị cáo không trốn tránh nhưng cơ quan có thẩm quyền không thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định theo quy định, đến nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định do đó không xác định tiền sự mà đây được xem xét là nhân thân của bị cáo. Mặc dù bị cáo còn trẻ, đã bị Toà án xét xử, áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc và bị xử phạt hành chính về những hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo không coi đó là bài học để cải tạo, rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo là người chủ động gọi điện thoại, liên hệ với bị cáo Lồng, đưa tiền để Lồng đi mua ma tuý nhằm mục đích sử dụng; do đó mặc quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình nhưng do bị cáo là người chịu trách nhiệm chính trong vụ án nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, nặng hơn bị cáo Lồng để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Thào A L, bị cáo không có tiền án, tiền sự; thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là Đảng viên đảng cộng sản Việt Nam; bị cáo không những không làm gương trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mà chỉ vì mục đích thoả mãn nhu cầu cá nhân khi tham gia tệ nạn xã hội bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù trong vụ án này bị cáo là đồng phạm, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nhưng cũng một phần do bị B rủ rê nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án, sau khi biết B bị bắt, bị cáo biết hành vi của mình không thể trốn tránh nên đã tự nguyện đến Cơ quan Công an đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái đội ăn năn, hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt và áp dụng mức hình phạt tù nhẹ hơn bị cáo B nhưng cũng cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo; bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật cũng như để răn đe, phòng ngừa tội phạm.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người dân tộc thiểu số, lao động trồng trọt không có thu nhập ổn định; gia đình các bị cáo thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Về vật chứng.

  • Đối với vật chứng là 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì công văn do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành. Mặt trước gói niêm phong ghi dòng chữ CA Mường Lát TC62 Ngày 12/7/2023. Mặt sau đã được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Lê Minh Tiến, Lưu Bình Nguyên, Bùi Thanh Duyệt và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa làm giáp lai đựng mẫu vật còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với vật chứng là 01 (một) chiếc điện thoại thu giữ của Phạm Bá B được niêm phong bằng phong bì công văn Công an huyện Mường Lát phát hành. Mặt trước gói niêm phong ghi dòng chữ vật chứng thu giữ của Phạm Bá B. Mặt sau đã được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Lê Văn Thái, Phạm Bá B, Lường Thị Hằng và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát. Đây là phương tiện B dùng để liên lạc với bị cáo L để nhờ mua ma tuý, là vật chứng liên quan trực tiếp đến tội phạm nên tịch thu sũng quỹ Nhà nước.
  • Đối với 01 xe mô tô BKS: 36H5 - 115.14, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra đã xác minh được chiếc xe mô trên là tài sản hợp pháp của ông Phạm Bá D, sinh năm 1966, trú tại bản C, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Ông Phạm Bá D đã ủy quyền cho con gái tên là Phạm Thị T, sinh năm 1992, trú tại bản C, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa để làm thủ tục xin và nhận lại chiếc xe mô tô nói trên. Xét thấy ông D không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can trong vụ án, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát đã trả lại xe cho ông D là phù hợp, ông D không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên miễn xét.

[7]. Về án phí:

Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo B có gia đình thuộc diện hộ cận nghèo hiện đang sinh sống ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Bá B và Thào A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • - Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Thào A L.
  • - Xử phạt: Bị cáo Phạm Bá B 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 10/7/2023.
  • - Xử phạt: Bị cáo Thào A L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 11/7/2023.
  • - Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì công văn do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, mặt trước gói niêm phong ghi dòng chữ CA Mường Lát TC62 ngày 12/7/2023, mặt sau đã được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Lê Minh Tiến, Lưu Bình Nguyên, Bùi Thanh Duyệt và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.
    • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động thu giữ của Phạm Bá B được niêm phong bằng phong bì công văn Công an huyện Mường Lát phát hành, mặt trước gói niêm phong ghi dòng chữ vật chứng thu giữ của Phạm Bá B, mặt sau đã được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Lê Văn Thái, Phạm Bá B, Lường Thị Hằng và các hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát.

Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát.

  • - Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 2, Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận :

  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có QL&NV liên quan;
  • - VKSND huyện Mường Lát;
  • - UBKT Huyện uỷ Mường Lát;
  • - CQ.CSĐT Công an huyện Mường Lát;
  • - CQ. THAHS Công an huyện Mường Lát;
  • - Chi cục THADS huyện Mường Lát;
  • - UBND xã T, huyện Q;
  • - UBND xã T, huyện M;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 76/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PHẠM BÁ B, THÀO A L - TÀNG TRỮ MA TUÝ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger