|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST Ngày 27- 8 - 2024 “V/v chị Tuyết ly hôn anh Phong” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Quang
Bà Trần Thị Hồng
- Thư ký tòa: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 295/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 21/9/2003.
Nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Hiện đang cư trú tại Malaysia. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Ngô Văn P, sinh ngày 12/9/1990.
Nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai nguyên đơn trình bày:
Chị Nguyễn Thị T và anh Ngô Văn P có thời gian tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 10 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự nguyện, theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó thường xuyên mâu thuẫn do tính tình không hợp. Hiện chị T đang sinh sống tại Malaysia nên vợ chồng ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị T và anh P có 02 con chung là Ngô Gia H sinh ngày 07/3/2020 và Ngô Duy A sinh ngày 04/6/2022. Hiện nay cả hai con đều sống chung với anh P. Chị T đề nghị giao cho anh P trực tiếp nuôi cả hai con và chị cấp dưỡng nuôi hai con 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai, bị đơn trình bày:
Anh P và chị T có thời gian tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 10 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự nguyện, theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó thường xuyên mâu thuẫn do tính tình không hợp. Hiện chị T đang sinh sống tại Malaysia nên vợ chồng ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P. Anh P đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau.
Về con chung: Anh P và chị T có 02 con chung là Ngô Gia H sinh ngày 07/3/2020 và Ngô Duy A sinh ngày 04/6/2022. Hiện nay cả hai con đều sống chung với anh P. Anh P đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con và yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi hai con 4.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản: Anh P không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xử cho ly hôn giữa chị T và anh P. Giao cho anh P được trực tiếp nuôi cả hai con chung là Ngô Gia H sinh ngày 07/3/2020 và Ngô Duy A sinh ngày 04/6/2022. Buộc chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con 2.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Án phí: chị T phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Chị T, anh P đều đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định, đây là hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn và hai người đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Thực tế tình trạng vợ chồng đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T đề nghị ly hôn, anh P đồng ý ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cho chị T và anh P được ly hôn.
[3] Về con chung: Anh P và chị T có 02 con chung là Ngô Gia H sinh ngày 07/3/2020 và Ngô Duy A sinh ngày 04/6/2022. Hiện nay cả hai con đều sống chung với anh P. Anh P đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con và chị T cũng đề nghị giao cả hai con cho anh P nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử giao cho anh P được quyền trực tiếp nuôi cả hai con. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh P không thống nhất được mức cấp dưỡng nuôi con chung. Theo hướng dẫn tại nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP có hiệu lực ngày 01/7/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn về mức cấp dưỡng nuôi con không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Theo nghị định số: 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định về mức lương tối thiểu vùng kể từ ngày 01/7/2024, tại huyện Ý, tỉnh Nam Định được xác định là vùng III mức lương tối thiểu vùng là 3.860.000 đồng/tháng. Vì vậy buộc chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P 2.000.000 đồng/tháng đối với mỗi con chung kể từ tháng 9/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
[5] Về tài sản: Chị T và anh P không yêu cầu Toà án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
- Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Ngô Văn P.
- Về con chung: Giao cho anh P được quyền trực tiếp nuôi cả hai con là Ngô Gia H sinh ngày 07/3/2020 và Ngô Duy A sinh ngày 04/6/2022. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng mỗi tháng) đối với mỗi con chung kể từ tháng 9/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
-
Án phí: Chị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định theo biên lai số 0005742 ngày 26 tháng 4 năm 2024. Chị T đã nộp xong án phí ly hôn.
Buộc chị T phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
-
Trong thời hạn 15 ngày chị Nguyễn Thị T, anh Ngô Văn P có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6,7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Công |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
